Blog

  • Tôi vừa ký hợp đồng mua căn hộ 126m² theo đúng lời bạn trai khuyên thì ngay trong ngày hôm đó, anh ta thản nhiên đòi chia tay. Chị gái anh ta còn đắc thắng cười nói: “Cảm ơn em dâu, cuối cùng căn nhà cũng thuộc về nhà chị.” Tôi nhìn hai người, khẽ cong môi cười rồi bình tĩnh đáp

    Tôi vừa ký hợp đồng mua căn hộ 126m² theo đúng lời bạn trai khuyên thì ngay trong ngày hôm đó, anh ta thản nhiên đòi chia tay. Chị gái anh ta còn đắc thắng cười nói: “Cảm ơn em dâu, cuối cùng căn nhà cũng thuộc về nhà chị.” Tôi nhìn hai người, khẽ cong môi cười rồi bình tĩnh đáp

    Tôi vừa ký hợp đồng mua căn hộ 126m² theo đúng lời bạn trai khuyên thì ngay trong ngày hôm đó, anh ta thản nhiên đòi chia tay. Chị gái anh ta còn đắc thắng cười nói: “Cảm ơn em dâu, cuối cùng căn nhà cũng thuộc về nhà chị.” Tôi nhìn hai người, khẽ cong môi cười rồi bình tĩnh đáp:

    “Căn nhà này không cần trả trước, mỗi tháng phải trả góp 22.000 tệ trong suốt 18 năm. Từ bây giờ, anh tự lo khoản đó đi.”

    “Vãn Vãn, từ nay nơi đây sẽ là mái ấm của hai chúng ta.”

    Trần Hạo ôm lấy tôi từ phía sau, nhẹ nhàng tựa cằm lên đầu tôi, giọng điệu vẫn dịu dàng như trước.

    “Em đã vất vả rồi. Khi giấy chứng nhận quyền sở hữu có xong, chúng ta sẽ đi đăng ký kết hôn. Trên sổ chỉ để tên em, đó là lời hứa anh dành cho em.”

    Trần Lệ chớp mắt nhìn tôi, ghé sát lại rồi hạ giọng, nhưng vẫn đủ để nhân viên bán hàng cùng mọi người xung quanh đều nghe thấy.

    “Vãn Vãn à, em đúng là công thần lớn nhất của nhà chị. Chỉ cần chuyện mua căn nhà này hoàn thành thì Tiểu Hạo cũng không còn điều gì phải bận lòng nữa. Sau này đã là người một nhà, chị nhất định sẽ đối xử thật tốt với em.”

    “Lâm Vãn.”

    Anh ta gọi đầy đủ cả họ lẫn tên tôi.

    arrow_forward_ios

    Read more

    “Chúng ta ch/ia t/ay đi.”

    Mọi thứ dường như ngưng đọng.

    Tiếng ồn trong phòng giao dịch, những lời trò chuyện khe khẽ của nhân viên bán hàng, cả âm thanh xe cộ từ bên ngoài… tất cả như biến mất chỉ trong chớp mắt.

    Trong tầm mắt tôi chỉ còn đôi môi Trần Hạo đang khép mở.

    “Ba năm qua, cảm ơn em đã luôn ở bên anh. Nhưng chúng ta thật sự không phù hợp.”

    “Em quá mạnh mẽ, cũng quá có chính kiến. Ở cạnh em khiến anh rất áp lực.”

    “Gia đình anh cũng thấy hai đứa không hợp nhau.”

    “Căn nhà này…” Anh ta đưa tay chỉ vào bản hợp đồng. “Coi như món quà bù đắp cho quãng thanh xuân em dành cho anh. Còn khoản vay mua nhà thì em tự thanh toán. Gia đình anh cũng đã bỏ ra không ít tiền đặt cọc. Phần còn lại… em cũng biết công việc của anh hiện giờ không ổn định, không thể giúp em được nữa.”

    Mỗi lời anh ta nói đều giống như những cây kim lạnh buốt xuyên qua tai tôi rồi ghim thẳng vào tim.

    Tôi hé môi nhưng chẳng thể cất nổi một lời.

    Tay chân lạnh ngắt.

    M/áu trong người như đông cứng.

    Trần Lệ bước lên, thân mật khoác lấy cánh tay Trần Hạo. Trên gương mặt là vẻ thương hại xen lẫn đắc ý của người chiến thắng.

    “Lâm Vãn à, đừng trách Tiểu Hạo. Chuyện tình cảm vốn chẳng thể miễn cưỡng. Em cũng thấy rồi, chỉ khi mua được căn nhà này thì tảng đá trong lòng nó mới thật sự được gỡ bỏ, mới đủ can đảm nói lời ch/ia t/ay với em. Nếu cứ kéo dài thì chỉ khiến cả hai thêm khổ thôi.”

    “Cũng phải cảm ơn em thật nhiều, em dâu.”

    Cô ta cố ý nhấn mạnh hai chữ cuối cùng, nụ cười rực rỡ đến chói mắt.

    “Nếu không nhờ em nhất quyết muốn mua nhà, lại còn có hồ sơ tín dụng đẹp, đủ điều kiện vay khoản lớn như vậy, thì chỉ dựa vào Tiểu Hạo chưa chắc đã mua được căn nhà này thuận lợi. Giờ thì quá tốt rồi, nhà đã có, khoản nợ em cũng nhận, còn Tiểu Hạo có thể nhẹ nhàng bắt đầu cuộc sống mới. Dù sao chúng ta cũng từng có khoảng thời gian gắn bó, coi như ch/ia t/ay trong yên ổn nhé.”

    Đến lúc ấy tôi mới hoàn toàn hiểu ra.

    Ngay từ đầu đến cuối…

    Đây vốn là một cái bẫy.

    Cái gọi là “ngôi nhà của chúng ta” mà Trần Hạo vẫn thường nhắc.

    Khoản “tiền đặt cọc gia đình anh cố gắng gom góp.”

    Những lời “góp ý đầy nhiệt tình” của chị gái anh ta.

    Tất cả…

    Đều đã được tính toán kỹ lưỡng.

    Điều họ nhắm đến chính là công việc ổn định, thu nhập tốt và lịch sử tín dụng đẹp của tôi, đủ sức một mình gánh khoản vay mua nhà khổng lồ.

    Còn Trần Hạo chỉ cần đóng vai một người bạn trai dịu dàng, chu đáo, liên tục hứa hẹn chuyện kết hôn để dỗ tôi ký tên vào hợp đồng.

    Đợi ngân hàng phê duyệt khoản vay, hợp đồng chính thức có hiệu lực…

    Con bò sữa như tôi cũng hết giá trị.

    Chỉ cần đá tôi ra là xong.

    Căn nhà…

    Họ sẽ ở.

    Hoặc sau này bán đi.

    Tiền thuộc về họ.

    Còn món nợ…

    Khoản trả góp hơn hai mươi nghìn tệ mỗi tháng…

    Lại là trách nhiệm của riêng tôi, Lâm Vãn.

    Không còn liên quan gì đến họ.

    Đúng là một màn tay không bắt sói.

    Đúng là cái gọi là “bồi thường thanh xuân.”

    Sự tức giận lạnh lẽo từ từ dâng lên từ tận đáy lòng.

    Dòng m/áu vốn như đông cứng cũng dần lưu thông trở lại, mang theo từng cơn đau nhói lan khắp cơ thể.

    Tôi ngẩng đầu.

    Ánh mắt chậm rãi lướt qua gương mặt tưởng như áy náy nhưng thực chất đầy nhẹ nhõm của Trần Hạo.

    Rồi dừng trên vẻ mặt đắc thắng của Trần Lệ.

    Tôi không khóc.

    Cũng không phát đ/iên như họ mong đợi.

    Ngược lại…

    Khóe môi tôi từ từ nhếch lên.

    Tôi bật cười.

    Ban đầu chỉ là nụ cười rất nhẹ.

    Sau đó càng lúc càng rõ.

    Cuối cùng thành tiếng.

    “Ha…”

    “Hahaha…”

    Trần Hạo và Trần Lệ đều đứng sững.

    Những nhân viên bán hàng cùng các vị khách xung quanh cũng đồng loạt nhìn sang.

    Trần Lệ nhíu mày.

    “Lâm Vãn, em bị kích động quá rồi sao? Đừng như vậy. Ch/ia t/ay thì cũng nên giữ lại chút thể diện.”

    Tôi ngừng cười.

    Đưa tay lau đi giọt nước mắt vì cười mà chảy ra.

    Sau đó nhìn thẳng vào Trần Hạo.

    Giọng nói bình tĩnh đến lạ, nhưng vẫn vang khắp sảnh giao dịch.

    “Trần Hạo.”

    “Anh chắc chắn muốn ch/ia t/ay sao?”

    “Ngay sau khi căn nhà này vừa được ký hợp đồng vay dưới tên một mình tôi?”

    Ánh mắt Trần Hạo thoáng dao động.

    Nhưng khi nhìn sang chị gái, anh ta lập tức cứng rắn trở lại.

    “Chắc chắn.”

    “Chúng ta không hợp, đáng lẽ nên ch/ia t/ay từ lâu.”

    “Còn căn nhà…”

    “Là do chính em muốn mua.”

    “Được.”

    Tôi khẽ gật đầu.

    Sau đó lấy từ chiếc túi lớn bên cạnh ra một tập hồ sơ khác.

    “Rầm.”

    Tôi đặt mạnh xuống ngay cạnh bản hợp đồng mua nhà.

    “Vậy thì hôm nay tiện thể tính toán rõ ràng luôn.”

    “Ba năm sống chung, tiền thuê nhà và chi phí sinh hoạt gần như chia đôi, những khoản đó tôi không nhắc đến.”

    “Nhưng trong thời gian yêu nhau với mục đích kết hôn, dưới đủ mọi lý do…”

    “Nào là mua quà cho bố mẹ anh.”

    “Nào là gia đình anh cần tiền gấp.”

    “Nào là vốn xoay vòng để anh khởi nghiệp.”

    “Tổng số tiền anh nhận từ tôi là 237.600 tệ.”

    “Đây là toàn bộ lịch sử chuyển khoản cùng bản sao giấy vay nợ.”

    Sắc mặt Trần Hạo lập tức thay đổi.

    “Đó… đó là em tự nguyện đưa cho anh. Sao lại thành nợ được?”

    “Là cho hay là vay…”

    “Trong lòng anh hiểu rõ.”

    “Pháp luật cũng sẽ có câu trả lời.”

    “Việc này…”

    “Luật sư của tôi sẽ trực tiếp làm việc với anh.”

    Tôi không nhìn anh ta thêm nữa.

    Mà quay sang Trần Lệ.

    Nụ cười trên môi càng rạng rỡ hơn.

    “Còn cô, cô Trần Lệ.”

    “Cô vẫn luôn nói…” .

    “Còn cô, cô Trần Lệ. Cô vẫn luôn nói gia đình cô gom góp tiền đặt cọc, nhưng hình như cô quên mất quy định của ngân hàng và bên phát triển dự án rồi.”

    Tôi thong thả rút chiếc điện thoại ra, mở sẵn giao diện ghi âm và ứng dụng ngân hàng, nhẹ nhàng xoay màn hình về phía hai chị em họ.

    “Số tiền đặt cọc 300.000 tệ đó, ngân hàng yêu cầu truy xuất nguồn gốc tài sản rất nghiêm ngặt. Để đảm bảo hồ sơ vay của tôi được duyệt, toàn bộ số tiền đó đã được chuyển từ tài khoản của anh ta vào tài khoản đứng tên tôi dưới hình thức ‘Tiền tặng cho cá nhân có mục đích kết hôn’. Trong hợp đồng đặt cọc ký sáng nay, đứng tên người mua duy nhất là Lâm Vãn.”

    Tôi ghé sát lại gần Trần Lệ, hạ giọng nhưng đủ để cả sảnh nghe rõ từng từ:

    “Nói cách khác, về mặt pháp lý, căn nhà này là tài sản riêng trước hôn nhân của tôi. Tiền đặt cọc đã nạp vào tên tôi dưới dạng quà tặng kết hôn, giờ hai người chủ động hủy bỏ cam kết kết hôn, theo luật tôi hoàn toàn có quyền từ chối hoàn trả khoản tiền đó nếu chứng minh được bên hủy bỏ cam kết là các người.”

    Sắc mặt Trần Lệ từ tái nhợt chuyển sang xám xịt. Cô ta lắp ba lắp bắp: “Cô… cô nói cái gì? Đó là tiền nhà tôi tích góp!”

    “Chưa hết đâu.” Tôi ngắt lời cô ta, quay sang nhìn Trần Hạo đang run rẩy đứng không vững.

    “Trần Hạo, anh vừa bảo anh không có khả năng tài chính và muốn chia tay đúng không? Rất tốt. Vừa hay ban nãy trước khi ký, tôi đã thỏa thuận riêng với giám đốc dự án. Vì hồ sơ tín dụng của tôi cực kỳ tốt, tôi chỉ đăng ký hợp đồng chờ kích hoạt giải ngân trong 24 giờ. Trong vòng 24 giờ này, nếu tôi nộp đơn xin đơn phương hủy hợp đồng vì phát sinh biến cố tài chính cá nhân, tôi chỉ mất một khoản phí phạt hợp đồng rất nhỏ. Số tiền cọc còn lại sẽ được đóng băng để giải quyết tranh chấp.”

    Tôi cầm tập tài liệu trên bàn lên, thong thả cất vào túi xách, giơ chiếc điện thoại đang ở chế độ ghi âm lên trước mặt hai người họ.

    “Mọi lời hai người vừa nói: từ việc thừa nhận lừa tôi đứng tên vay hộ, việc anh không có khả năng trả nợ, đến cả nụ cười đắc thắng của cô Trần đây… tôi đã ghi âm và ghi hình không thiếu một giây.”

    “Bây giờ tôi có hai sự lựa chọn:”

    Tôi dơ một ngón tay lên: “Một, ngay bây giờ tôi đi đến văn phòng chủ đầu tư hủy hợp đồng. Tiền cọc 300.000 tệ của nhà anh sẽ bị đóng băng theo tranh chấp pháp lý cho đến khi kiện tụng xong xuôi. Đồng thời, luật sư của tôi sẽ gửi đơn kiện truy thu 237.600 tệ tiền vay nợ cá nhân, cộng thêm kiện hai người dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản.”

    Tôi dơ ngón tay thứ hai: “Hai, trong vòng 48 giờ, anh chuyển trả lại toàn bộ 237.600 tệ cho tôi. Sau khi tôi nhận đủ tiền, tôi sẽ làm thủ tục rút hồ sơ mua nhà để bên phía dự án hoàn trả tiền cọc lại cho anh. Chúng ta ‘chia tay trong yên ổn’ đúng như ý chị gái anh mong muốn.”

    Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người

    “Lâm Vãn! Em… sao em có thể nham hiểm như vậy?!” Trần Hạo gào lên, gương mặt dịu dàng thường ngày biến mất hoàn toàn, chỉ còn lại sự hoảng loạn tột cùng.

    “Nham hiểm?”

    Tôi mỉm cười, tiến lại gần vỗ nhẹ lên vai anh ta, ghé tai thì thầm:

    “So với kịch bản ‘tay không bắt xót’, bắt tôi gánh nợ 22.000 tệ mỗi tháng trong 18 năm để gia đình anh hưởng trọn căn nhà 126m² này… thì tôi vẫn còn tử tế chán.”

    Nói rồi, tôi ngẩng cao đầu, quay lưng bước đi thẳng ra khỏi sảnh giao dịch.

    Thoáng nghe thấy sau lưng là tiếng Trần Lệ tát thẳng mặt Trần Hạo một cái chát chúa, cùng tiếng chửi rủa ầm ĩ của hai chị em họ giữa những ánh mắt khinh bỉ của hàng chục người xung quanh.

    Nắng bên ngoài sảnh chiếu xuống ấm áp. Tôi hít một hơi thật sâu, cảm nhận được sự tự do và thanh thản tuyệt đối.

    Cạm bẫy đã sụp đổ, và người sập bẫy… chưa bao giờ là tôi.

  • Mẹ tôi lỡ làm vỡ cái bát, chồng chỉ thẳng mặt chửi – 3 tiếng sau cả nhà anh bị đuổi ra đường…

    Mẹ tôi lỡ làm vỡ cái bát, chồng chỉ thẳng mặt chửi – 3 tiếng sau cả nhà anh bị đuổi ra đường…

    CÂU CHUYỆN HƯ CÂU DO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO AI VIẾT, KHÔNG PHẢI CHUYỆN NGOÀI ĐỜI THỰC, CHỈ MANG TÍNH CHẤT GIẢI TRÍ, CHIÊM NGHIỆM

    Mẹ tôi lỡ làm vỡ cái bát, chồng chỉ thẳng mặt chửi  – 3 tiếng sau cả nhà anh bị đuổi ra đường…

    Tôi đẩy cánh cửa phòng ngủ, bàn tay lạnh ngắt xoay nhẹ mã khóa két sắt để lấy giấy tờ nhà, trong khi tiếng quát tháo của chồng vẫn dội vào vách tường nhức óc. “Mắt mù à? Có cái bát mà cũng cầm không vững!” Lời mắng mỏ ấy cứa sâu vào tâm can tôi như một nhát dao. Mẹ tôi chôn chân bên góc phòng, đôi bàn tay gầy gò bấu chặt vào nhau, gương mặt trắng bệch vì sợ hãi hệt như vừa phạm phải trọng tội. Cả căn phòng chìm vào sự tĩnh lặng ngột ngạt. Thế nhưng, chỉ ba tiếng đồng hồ ngắn ngủi sau đó, nhà chồng tôi đã phải ôm đồm khăn gói, tay trắng dắt díu nhau ra đường khỏi cơ ngơi năm tầng bề thế mà họ từng vỗ ngực tự hào.

    Nghĩ lại, giả sử khoảnh khắc cái bát sứ rơi xuống đất không trở thành ngòi nổ cho mọi uất ức bùng cháy, có lẽ tôi đã không mở cánh cửa đón mẹ vào ngày hôm ấy. Dù vậy, số phận chẳng bao giờ cho con người ta cơ hội lùi bước. Sự việc bắt đầu vào một buổi chiều oi ả, ngập tràn mùi thơm của những trái cây mùa vụ hòa lẫn với bầu không khí nặng nề bên trong căn hộ thành phố.

     

    Khám phá thêm

    Thư viện ảnh trực tuyến

    Mang thai & Thiên chức làm mẹ

    Tỏi

     

    Mẹ tôi, bà Quế, một đời gắn bó với đồng áng chân lấm tay bùn, mặc chiếc áo vải thô đã phai màu, xách theo chiếc giỏ đựng mận và xoài nhà trồng. Nụ cười của bà vừa ngượng ngùng vừa rạng rỡ, đôi mắt nheo lại vì hạnh phúc khi được vào đô thị thăm đứa con gái duy nhất. Tôi vội vã đón lấy giỏ quà, trách yêu: “Sao mẹ tới mà không gọi con để con ra bến xe đón?” Bà khẽ xoa vạt áo, giọng dịu dàng: “Mẹ sợ con bận việc bên nhà chồng lại lỡ dở.”

    Ngay lúc đó, mẹ chồng tôi – bà Dung – thong thả bước ra từ phòng khách. Bà liếc mẹ tôi từ đầu đến chân với ánh mắt dò xét, khinh miệt rồi buông lời châm chọc: “Ôi dào, tưởng ai hóa ra bà sui ở quê ghé thăm. Chắc dưới đó rảnh rỗi lắm mới lên đây chơi lâu thế?” Mẹ tôi lúng túng cúi đầu, giọng nghẹn ngào: “Dạ, em chào chị ạ.” Bà Dung lạnh lùng hừ một tiếng rồi quay đi, để lại luồng không khí lạnh lẽo và mùi nước hoa gắt gỏng.

    Đến bữa cơm, mẹ tôi ăn vội vài miếng rồi định dọn dẹp cất hộ mâm bát. Tôi vội cản: “Để đấy con thu dọn ạ.” Nhưng bà chỉ cười hiền từ, những nếp nhăn quanh khóe mắt hằn sâu: “Mẹ quen tay rồi, ở nhà ai ăn xong mẹ cũng rửa mà. Có mỗi chiếc bát thôi con.” Bàn tay chai sần, gân guốc của bà run run nâng chiếc bát sứ. Bỗng “chát” – âm thanh vỡ vụn sắc lẹm xé toạc không gian.

    Mẹ tôi đứng chết lặng, trân trối nhìn những mảnh sứ trắng tung tóe dưới nền nhà, mặt cắt không còn giọt máu. Chỉ chừng vài giây, tiếng bước chân thình thịch từ tầng trên lao xuống. Tuấn – chồng tôi – mặt đỏ phừng phừng, gân cổ nổi gân guốc, trừng mắt nhìn mẹ tôi gầm lên: “Bà làm ăn kiểu gì thế hả? Bộ sưu tập người ta mua cả bộ, giờ mẻ một cái thì vứt đi à, đúng là đồ ngu xuẩn!”

    Tôi đứng hình như bị sét đánh ngang tai. Mẹ lùi lại phía sau, đôi môi mấp máy không nên lời, hai tay buông thõng bất lực. Bà không nhìn con rể mà hướng ánh mắt về phía tôi, chứa đựng sự trông chờ một câu bênh vực dẫu là nhỏ nhoi. Bà Dung xuất hiện ngay sau đó, khoanh tay bĩu môi: “Đúng là chân lấm tay bùn, quen thói vụng về rồi vào đây phá đồ đạc nhà người ta.”

    Bố chồng tôi, ông Phát, vẫn điềm nhiên ngồi đọc báo ở sofa như thể chuyện chẳng liên quan gì đến mình. Mẹ tôi lén lấy khăn giấy chấm khóe mắt, giọng run rẩy: “Tôi xin lỗi… tại tôi hậu đậu quá. Để tôi đền chiếc khác.”

     

    Khám phá thêm

    tội

    Tôi

    Nhà và vườn

     

    Giọt nước đã tràn ly. Ngực tôi như bị đè nặng bởi một tảng đá nghẹn đắng. Bao năm qua tôi nhẫn nhịn, cắn răng nuốt những giọt nước mắt tủi thân trước sự miệt thị của nhà chồng chỉ vì mong gia đình êm ấm. Nhưng giờ thì giới hạn đã cạn. Tôi bước đến, nắm chặt bàn tay lạnh ngắt của mẹ: “Mẹ đừng sợ, đi với con. Nhà này con mua, mẹ không phải chịu nhục nữa.”

    Mẹ nhìn tôi ngấn lệ rồi khẽ gật đầu. Chúng tôi bước ra ngoài, cánh cửa khép lại nặng nề như một nhát búa. Trong thang máy, tiếng máy lạnh rì rào hòa lẫn với tiếng thở dài não nề của mẹ. Khi cửa mở, mẹ níu nhẹ tay áo tôi, nghẹn ngào: “Hay là con cho mẹ về quê nhé, mẹ không muốn vì mẹ mà con khó xử với chồng…”

    Nghe những lời cam chịu ấy, tim tôi đau nhói. Căn nhà năm tầng mặt tiền đường lớn này rõ ràng do chính tay tôi vất vả làm ra và đứng tên trước khi kết hôn, Tuấn chỉ phụ trách phần trang trí nội thất. Vậy mà suốt thời gian qua, gia đình anh ta lại xem đó là chiến tích của mình, biến mẹ tôi thành người hầu kẻ hạ mỗi lần lên thăm.

    Về đến căn hộ nhỏ của riêng tôi, tôi bảo mẹ ngồi nghỉ rồi bước thẳng vào phòng ngủ, mở két lấy sổ đỏ và các giấy tờ tài sản. Tài khoản ngân hàng tích lũy gần bốn trăm triệu từ tiền lương bao năm đi làm của tôi vẫn còn nguyên. Tôi gọi ngay cho luật sư riêng: “Làm thủ tục thu hồi lại quyền sở hữu căn nhà cho tôi ngay lập tức.”

    Tôi ngả người lên giường, nước mắt rơi lã chã. Tôi đã cho họ quá nhiều thời gian để tôn trọng mẹ tôi, nhưng họ chỉ biết xem thường. Sự việc cái bát vỡ chỉ là cái cớ, còn bản chất khinh miệt của họ mới là thứ không thể dung thứ. Tôi dắt mẹ rời đi, và ba ngày sau, điện thoại tôi reo lên…

    Điện thoại hiển thị tên Tuấn gọi đến. Tôi thản nhiên trượt màn hình nghe máy. Giọng Tuấn vang lên đầy vẻ hách dịch và bực bội: “Cô giỏi lắm nhỉ, dám dắt mẹ về quê rồi tắt điện thoại à? Về ngay nhà nấu cơm đi, cả nhà đang đợi đấy! Với lại bảo mẹ cô chuẩn bị tiền đền cái bát đắt giá đi, đừng tưởng bỏ đi là xong chuyện.”

    Tôi mỉm cười lạnh lùng, đáp gọn lỏn qua điện thoại: “Anh nhầm to rồi. Căn nhà đó không còn chỗ cho anh nữa đâu. Sổ đỏ trong tay tôi, lệnh trục xuất cũng đã phát đi từ sáng. Ba mươi phút nữa không dọn đồ cút ra khỏi nhà, công an phường sẽ đến giúp anh.” Nói xong, tôi dập máy cái rụp, mặc cho đầu dây bên kia tiếng hét lác mắt của Tuấn vang lên. Tôi quay sang nhìn mẹ đang mỉm cười nhẹ nhõm bên ly nước ấm, lòng tôi chợt nhẹ tênh. Trò chơi nhẫn nhịn đến đây là kết thúc, cuộc đời mới của hai mẹ con tôi chính thức bắt đầu từ giây phút này.

  • Con gái đón tôi sang Mỹ hưởng phúc. Vừa xuống máy bay, đứa cháu ngoại 6 tuổi đã ghésát tai tôi thì thầm bằng tiếng Trung:

    Con gái đón tôi sang Mỹ hưởng phúc. Vừa xuống máy bay, đứa cháu ngoại 6 tuổi đã ghésát tai tôi thì thầm bằng tiếng Trung:


    “Mẹ, mệt rồi đúng không? Bay hơn mười mấy tiếng lận mà.”

    Giọng của con gái tôi, Phương Tĩnh, vang lên bên tai.

    Tôi gật đầu, nhưng ánh mắt lại vượt qua vai nó, nhìn về phía người con rể đang đứng nói chuyện với nhân viên hải quan bằng tiếng Anh lưu loát—Trương Vĩ.

    Anh ta mặc bộ vest cắt may tinh xảo, trên cổ tay là chiếc đồng hồ nhìn đã biết giá trị không hề rẻ, từ đầu đến chân đều toát lên vẻ hào nhoáng của tầng lớp tinh anh.

    Anh ta là chồng của con gái tôi, là cha của cháu ngoại An An.

    Cũng là người mà trong suốt cuộc đời này, tôi lần đầu tiên gặp mặt.

    “Bà…”

    Một bàn tay nhỏ lạnh buốt nắm chặt lấy ngón tay tôi.

    Là An An.

    Tôi cúi xuống.

    Khuôn mặt tinh xảo của con bé ngẩng lên, đôi mắt đen trắng rõ ràng chứa đầy vẻ nghiêm trọng và hoảng sợ không phù hợp với tuổi tác.

    Chính cái miệng nhỏ này, vừa rồi đã ghé sát tai tôi, dùng thứ tiếng Trung chuẩn mực nhất mà tôi từng dạy, nói ra hai chữ ấy—

    Chạy đi.

    Trái tim tôi như bị một bàn tay vô hình bóp chặt, đến cả hô hấp cũng đình trệ trong chốc lát.

    Ban đầu tôi nghĩ chỉ là lời đùa của trẻ con, nhưng khi thấy con bé dứt khoát nuốt chửng cục giấy kia, lại nhìn thấy sắc mặt tái nhợt trong chớp mắt của Phương Tĩnh…

    Một dự cảm chẳng lành, như dây leo điên cuồng mọc lên từ đáy lòng tôi.

    Trương Vĩ làm xong thủ tục, tươi cười bước về phía chúng tôi.

    “Mẹ, vất vả rồi! Đưa hộ chiếu với giấy tờ cho con đi, con giữ giúp cho. Ở đây ra ngoài đâu cũng cần giấy tờ, để con giữ là an toàn nhất.”

    Giọng nói của anh ta nhiệt tình, chân thành, thái độ hạ thấp đến mức không có chỗ nào để bắt bẻ.

    Nhưng đặt cạnh câu “chạy đi” của An An, sự nhiệt tình quá mức này lại giống như viên kẹo bọc độc.

    Tôi làm giáo viên ngữ văn cấp hai cả đời, đã gặp quá nhiều học sinh biết diễn kịch, cũng vạch trần không ít lời nói dối vụng về.

    Tôi siết chặt túi đựng hộ chiếu trong tay—đó là giấy tờ tùy thân duy nhất của tôi, là tấm vé để tôi trở về nhà.

    Tôi mỉm cười lắc đầu, giọng ôn hòa nhưng không cho phép từ chối:

    “Không cần đâu, Trương Vĩ. Nhân viên hải quan vừa kiểm tra xong còn dặn mẹ phải mang theo bên người. Người già hay quên, vẫn là tự giữ thì yên tâm hơn.”

    Nụ cười trên mặt Trương Vĩ khựng lại trong thoáng chốc, nhanh đến mức gần như không thể nhận ra.

    Phương Tĩnh đứng bên cạnh lập tức căng thẳng kéo nhẹ tay áo anh ta.

    Anh ta nhanh chóng lấy lại vẻ “con rể hoàn hảo”, cười ha ha:

    “Mẹ nói đúng, vẫn là mẹ suy nghĩ chu đáo. Vậy mình đi thôi, xe đang đợi bên ngoài rồi, về nhà ăn mừng đón mẹ!”

    “Về nhà”—một từ ấm áp biết bao.

    Nhưng nhìn bóng lưng anh ta quay đi, tôi chỉ cảm thấy một luồng lạnh chạy dọc sống lưng.

    Chiếc xe SUV màu đen rộng rãi rời khỏi sân bay một cách êm ái.

    Khung cảnh bên ngoài lùi dần, những bảng chữ cái xa lạ và kiến trúc lạ lẫm không ngừng nhắc nhở tôi—

    Đây là đất khách quê người, cách nhà tôi cả một đại dương.

    Tôi nhìn con gái ngồi bên cạnh, im lặng không nói.

    Nó gầy đi rất nhiều, hốc mắt trũng sâu, đôi mắt từng sáng rực giờ chỉ còn lại một màu xám xịt vô hồn.

    “Tĩnh Tĩnh, công việc dạo này sao rồi? Công ty con trước đó nói sẽ thăng chức cho con mà?”

    Tôi cố ý dùng tiếng Trung, nhẹ giọng hỏi, không nhìn về phía Trương Vĩ.

    Cơ thể Phương Tĩnh khẽ run lên, môi mấp mẹy, trả lời mơ hồ:

    “Cũng… cũng được…”

    “What are you talking about? Speak English!”

    Trương Vĩ đang lái xe đột nhiên quát lên bằng tiếng Anh, giọng đầy khó chịu và cáu kỉnh không hề che giấu.

    Phương Tĩnh giật mình, cả người co rúm lại.

    Tôi thấy nó theo phản xạ rụt tay vào trong tay áo, nhưng chỉ trong khoảnh khắc thoáng qua, tôi vẫn nhìn rõ vết bầm tím nhàn nhạt trên cổ tay nó.

    Tim tôi như bị đ//âm một nhát.

    Đây không còn là đứa con gái tự tin, rạng rỡ từng là niềm tự hào của tôi nữa.

    Nó giống như một con chim sợ cành cong.

    Suốt quãng đường, An An không nói thêm câu nào, chỉ nắm chặt tay tôi.

    Lòng bàn tay con bé lạnh buốt, còn lấm tấm mồ hôi.

    Tôi dùng ngón tay cái nhẹ nhàng xoa lên mu bàn tay nó, âm thầm trấn an.

    Nhưng trái tim tôi lại từng chút một chìm xuống.

    Xe chạy càng lúc càng xa trung tâm.

    Những tòa nhà cao tầng dần biến mất, thay vào đó là bãi cỏ rộng và những căn nhà riêng lẻ thưa thớt.

    Nơi này hoàn toàn không giống căn hộ cao cấp giữa trung tâm thành phố với cảnh đêm phồn hoa mà Phương Tĩnh từng gửi ảnh cho tôi.

    Cuối cùng, xe dừng trước một căn nhà riêng lẻ.

    Ngôi nhà rất lớn, nhưng cỏ trước cửa đã mọc cao ngang nửa người, hoang tàn.

    Hòm thư bị nhét đầy ắp, vài phong thư rơi xuống đất, trên đó in rõ chữ đỏ “URGENT” (khẩn cấp).

    “Mẹ, tụi con đổi sang nhà lớn hơn, để mẹ sang ở cho rộng rãi, yên tĩnh hơn.”

    Trương Vĩ xuống xe, ân cần mở cửa cho tôi, trên mặt vẫn là nụ cười hoàn hảo không tì vết.

    Lời nói của anh ta kín kẽ không kẽ hở, nhưng những tờ hóa đơn thúc nợ kia lại như từng cái tát vang dội, đập nát lớp vỏ giả tạo đó.

    Vừa bước vào nhà, một luồng không khí đục ngầu pha lẫn mùi bụi và đồ ăn nhanh ập vào mặt.

    Phòng khách chất đầy mấy thùng giấy chưa mở, trên sofa vứt bừa vài bộ quần áo.

    Nơi này không giống một mái nhà, mà giống chỗ ở tạm bợ.

    “Mẹ, đưa điện thoại cho con đi, con thay sim Mỹ cho. Ở đây gọi đường dài đắt lắm, sau này mẹ muốn liên lạc với bạn bè trong nước thì dùng điện thoại bàn ở nhà là được.”

    Trương Vĩ rất tự nhiên đưa tay ra.

    Đây chính là bước cuối cùng.

    Không lấy được hộ chiếu, thì muốn cắt đứt liên lạc của tôi với thế giới bên ngoài.

    Trong lòng tôi chuông cảnh báo vang lên dồn dập, nhưng ngoài mặt vẫn giả vờ mệt mỏi, thuận theo đưa điện thoại cho anh ta.

    Anh ta nhận lấy, thao tác vài cái, rồi trước mắt tôi, trực tiếp tắt nguồn máy, tiện tay ném lên tủ giày.

    “Mẹ hơi mệt, muốn lên phòng nghỉ một lát, chỉnh lại múi giờ.”

    Tôi xoa thái dương, giọng yếu ớt.

    “Đúng rồi đúng rồi, Tĩnh Tĩnh, mau dẫn mẹ lên phòng đi.”

    Trương Vĩ lập tức đáp lời.

    Phương Tĩnh đưa tôi lên phòng khách trên lầu hai.

    Căn phòng rất sạch sẽ, rõ ràng đã được dọn riêng cho tôi.

    Tôi giả vờ đi đến bên cửa sổ, muốn mở ra cho thoáng khí.

    Ngón tay tôi chạm phải một chiếc đinh lạnh ngắt.

    Cửa sổ… đã bị đóng đinh từ bên ngoài bằng ván gỗ, chỉ chừa lại một khe hẹp chưa đến một ngón tay để thông gió.

    Máu trong người tôi gần như đông cứng.

    Đây không phải là đón tiếp.

    Đây là giam lỏng.

    “Mẹ, uống nước đi.”

    Phương Tĩnh bưng một cốc nước bước vào, tay run nhè nhẹ.

    Tôi nhận lấy, nhìn thẳng vào mắt nó, từng chữ một hỏi:

    “Tĩnh Tĩnh, rốt cuộc là chuyện gì?”

    Ánh mắt nó lập tức trở nên hoảng loạn tột độ, như con nai bị dọa, môi run bần bật…

    Nhưng không thốt ra được một lời.

    Cuối cùng, nó chỉ cúi gằm đầu xuống, giọng nhỏ như muỗi kêu:

    “Mẹ, mẹ mệt rồi, uống nước rồi ngủ sớm đi.”

    Tôi đưa cốc nước lên sát mũi.

    Một mùi tanh ngọt nhè nhẹ, không thuộc về nước, len vào khoang mũi.

    Tôi từng chăm sóc một bà lão hàng xóm trong bệnh viện, mùi của thu//ốc ngủ tôi không hề xa lạ.

    Con gái tôi—đứa con tôi mang nặng đẻ đau—vậy mà lại bưng cho tôi một cốc nước đã bị bỏ thu// ốc.

    Khoảnh khắc ấy, đau lòng và phẫn nộ như hai lưỡi dao cùn, cứa đi cứa lại trong lồng ngực tôi.

    Nhưng tôi không thể ngã xuống.

    Tôi phải giữ tỉnh táo.

    “Được, mẹ nghe con, ngủ một giấc cho khỏe.”

    Trước mặt nó, tôi nâng cốc nước lên môi, cổ họng khẽ động, giả vờ nuốt xuống, rồi đưa lại chiếc cốc cho nó.

    Tôi mỉm cười dịu dàng với nó, như thể không phát hiện ra điều gì.

    Trong mắt Phương Tĩnh thoáng qua một tia nhẹ nhõm, xen lẫn cảm giác tội lỗi nặng nề.

    Nó nhận lại cốc, gần như chạy trốn khỏi căn phòng.

    Ngay khi cửa vừa đóng lại, tôi lập tức lao vào phòng vệ sinh, nhả toàn bộ ngụm nước vừa ngậm trong miệng vào bồn cầu, không sót một giọt.

    Dòng nước lạnh rửa trôi khoang miệng, cũng khiến đầu óc rối loạn của tôi hoàn toàn tỉnh táo.

    Đây không phải là hưởng phúc.

    Đây là một âm mưu được sắp đặt tỉ mỉ.

    Còn tôi, chính là con cá mắc lưới của bọn họ.

    02

    Tôi nằm trên giường, trùm kín chăn, chỉ để lộ nửa khuôn mặt, hơi thở chậm rãi, đều đặn.

    Tôi phải giả vờ ngủ.

    Giả vờ như cốc nước kia đã phát huy tác dụng.

    Chỉ có như vậy, họ mới buông lỏng cảnh giác.

    Đêm càng lúc càng sâu, căn nhà cô độc này yên tĩnh đến đáng sợ.

    Nhưng tai tôi lại như một chiếc radar, thu nhận từng âm thanh bên ngoài.

    Trong phòng khách, vang lên tiếng chửi rủa bị kìm nén của Trương Vĩ.

    Hình như hắn đang gọi điện. Dù không nghe rõ toàn bộ, nhưng mấy từ như “last chance” (cơ hội cuối cùng), “deadline” (hạn chót), “money” (tiền)… vẫn xuyên qua bức tường, như đạn bắn vào tai tôi.

    Ngay sau đó là tiếng khóc nghẹn của Phương Tĩnh.

    “Khóc cái gì mà khóc! Đồ xui xẻo! Nếu không phải con vô dụng như mày, tao đã đến nông nỗi này chưa?”

    Giọng quát của Trương Vĩ đầy bạo lực và khinh miệt.

    “Cố nhịn thêm vài ngày nữa! Chỉ cần xong việc, chúng ta sẽ có tiền! Tất cả lỗ hổng đều lấp được!”

    “Tốt nhất là ngoan ngoãn cho tao, đừng quên An An vẫn nằm trong tay tao!”

    Đe dọa.

    Một sự đe dọa trần trụi.

    Tim tôi thắt lại, móng tay cắm sâu vào lòng bàn tay.

    Đứa con gái từng được tôi nâng niu trong lòng bàn tay, đứa trẻ chỉ cần thấy tôi buồn một chút là đã khóc…

    Giờ đây lại đang sống một cuộc đời địa ngục nơi đất khách.

    Còn tôi—người làm mẹ—lại chẳng hay biết gì.

    Không biết đã bao lâu trôi qua, âm thanh trong phòng khách cuối cùng cũng im bặt.

    Cả căn nhà rơi vào tĩnh lặng ch// ết chóc.

    Nhưng thần kinh tôi vẫn căng như dây đàn.

    Tôi biết, bí mật thật sự… vẫn chưa lộ ra.

    Lại thêm một tiếng đồng hồ trôi qua, hoặc lâu hơn nữa.

    Cửa phòng tôi bị đẩy hé ra một khe rất nhỏ.

    Một bóng dáng bé xíu, như con mèo cảnh giác, lặng lẽ lẻn vào.

    Là An An.

    Con bé không bật đèn, lần theo ánh trăng yếu ớt lọt qua khe cửa sổ, mò đến bên giường tôi.

    Bàn tay nhỏ khẽ chạm vào cánh tay tôi.

    Tôi từ từ mở mắt.

    Dưới ánh trăng, đôi mắt An An sáng đến kinh người.

    Con bé đặt ngón tay lên môi ra hiệu “suỵt”, rồi mở lòng bàn tay còn lại.

    Trong tay nó là một cục giấy ướt nhẹp, bị vò nát.

    Chính là cục giấy mà ban ngày ở hải quan, nó đã nuốt vào.

    Nó ghé sát tai tôi, thì thầm gần như không thành tiếng:

    “Bà… con móc họng… nôn ra.”

    Hai chữ “móc họng”… như một mũi khoan, đâ//m thẳng vào tim tôi.

    Một đứa trẻ sáu tuổi, chỉ để truyền tin cho tôi, lại tự hành hạ bản thân như vậy.

    Tôi run rẩy đưa tay nhận lấy cục giấy còn vương nhiệt độ cơ thể nó.

    Tôi cẩn thận, từng chút một mở ra.

    Mảnh giấy rất nhỏ, là một góc xé từ cuốn sổ.

    Trên đó viết một cái tên tiếng Anh và một dãy số điện thoại.

    Bên dưới, là ba chữ tiếng Trung nguệch ngoạc nhưng dồn hết sức lực:

    “Cứu mẹ tôi.”

    Đó là chữ của Phương Tĩnh.

    Không phải “cứu con”…

    Mà là “cứu mẹ tôi”.

    Trong tuyệt cảnh của chính mình, con gái tôi nghĩ đến không phải bản thân… mà là tôi.

    Nó biết âm mưu này. Nó muốn cứu tôi, nhưng bất lực, chỉ có thể dùng cách này, đặt hy vọng cuối cùng vào một đứa trẻ sáu tuổi.

    Nước mắt tôi lặng lẽ trào ra.

    “An An, số điện thoại này là của ai?”

    Tôi hạ thấp giọng hỏi, từng chữ nặng như đá.

    An An lắc đầu:

    “Con không biết… Là mẹ lén viết cho con. Ba bắt con phải thuộc một số khác, nói là của công ty mẹ, nếu ai hỏi thì nói vậy.”

    Suy nghĩ của con bé rõ ràng đến mức khiến tôi đau lòng.

    Nó biết số ba bắt thuộc là giả.

    Còn số mẹ đưa—mới là thật.

    “Ba nói…” giọng An An nhỏ hơn nữa, mang theo sự hoang mang của một đứa trẻ, “ba nói bà sang rồi, nhà mình sẽ có tiền. Ba còn nói… đã mua cho bà một ‘món quà’ rất đắt.”

    “Món quà gì?”

    Tim tôi đập loạn.

    An An không trả lời, mà lấy từ bảng vẽ nhỏ của mình ra một bức tranh.

    Nó đưa cho tôi.

    Nét vẽ rất non nớt, dùng sáp màu.

    Trong tranh, một bà lão buộc tóc đuôi gà nằm trên đất, mắt nhắm lại.

    Xung quanh là mấy người nhỏ nhỏ đang há miệng khóc.

    Ở phía trên cùng, An An dùng bút sáp đen viết lại một dãy số và ký hiệu mà nó đã nhìn thấy ở đâu đó:

    “$1,000,000”.

    Một triệu đô la.

    Khoảnh khắc ấy, tôi như rơi xuống hầm băng, toàn thân lạnh buốt.

    Tôi đã hiểu hết rồi.

    Thứ Trương Vĩ muốn… không phải căn nhà hai ba triệu tệ của tôi ở trong nước.

    Bán nhà cũng không thể lấp được “tất cả lỗ hổng” như hắn nói.

    Thứ hắn muốn—

    Là mạng của tôi.

    Một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ trị giá một triệu đô la.

    Chỉ cần tôi—một bà lão vừa sang Mỹ, chưa quen nước, không biết tiếng—xảy ra một “tai nạn” nào đó…

    Ví dụ như ngã cầu thang, hay đột nhiên phát bệnh…

    Hắn sẽ nhận được số tiền khổng lồ ấy, giải quyết toàn bộ khủng hoảng tài chính.

    Còn con gái đáng thương của tôi…

    Chính là miếng mồi mà hắn dùng để dụ tôi bước vào cái lò mổ này.

    Cốc nước bỏ thuốc kia… chỉ mới là bước đầu.

    Thậm chí, bọn họ còn không chờ nổi nữa.

    Cái lạnh thấu xương lan từ sống lưng xuống tận tứ chi.

    Người con rể mà tôi tưởng…

    Là một kẻ đồ tể.

    Cuộc sống tuổi già hạnh phúc mà tôi tưởng…

    Lại là một pháp trường được dàn dựng sẵn.

    Tôi ôm chặt An An—đứa trẻ đã thắp lên một tia sáng trong bóng tối cho tôi.

    Cơ thể nó nhỏ bé như vậy, nhưng lại mang đến cho tôi sức mạnh vô hạn.

    “An An, nghe bà nói.”

    Tôi nhìn thẳng vào mắt nó, giọng vô cùng nghiêm túc.

    “Từ bây giờ, con phải giả vờ như không biết gì cả. Mảnh giấy này, bức tranh này—con chưa từng đưa cho bà xem. Tối nay, chúng ta cũng chưa từng gặp nhau. Hiểu không?”

    An An gật đầu thật mạnh.

    Trong mắt con bé không có sợ hãi, chỉ có một sự kiên định vượt xa tuổi tác.

    “Bà ơi… bà sẽ chạy được chứ?”

    Nó hỏi.

    Tôi xoa đầu nó, cho nó một câu trả lời chắc chắn.

    “Chạy được. Nhưng bà không chỉ chạy một mình…”

    Giọng tôi lạnh đến tận xương, mang theo sự quyết liệt không gì lay chuyển:

    “Bà còn phải đưa An An của bà, và cả mẹ con… cùng rời khỏi địa ngục này.”

    Hắn muốn mạng của tôi?

    Tôi nhất định phải sống.

    Không chỉ sống—

    Tôi còn phải tận mắt nhìn thấy con ác quỷ đó, trả giá đắt cho tất cả những gì hắn đã làm!

    03

    Sáng hôm sau, tôi bị Phương Tĩnh gọi dậy.

    “Mẹ, dậy ăn sáng đi.”

    Giọng nó mang theo sự dò xét cẩn trọng.

    Tôi chậm rãi mở mắt, cố ý để ánh nhìn trở nên trống rỗng, mờ đục, ngơ ngác nhìn nó hồi lâu.

    “Cô là… ai?”

    Sắc mặt Phương Tĩnh lập tức trắng bệch.

    “Mẹ! Con là Tĩnh Tĩnh đây! Mẹ không nhận ra con sao?” Giọng nó đã run lên vì sợ.

    Tôi như lúc này mới “hiểu ra”, chậm chạp gật đầu:

    “À… Tĩnh Tĩnh… đầu mẹ đau quá, tối qua hình như nằm mơ nhiều lắm…”

    Tôi vịn tường, bước chân lảo đảo đi ra ngoài.

    Trương Vĩ đã ngồi sẵn ở bàn ăn, nhàn nhã uống cà phê.

    Thấy tôi, hắn lập tức nở nụ cười nhiệt tình quen thuộc:

    “Mẹ dậy rồi à? Ngủ có ngon không? Lại đây ăn sáng đi, Tĩnh Tĩnh đặc biệt làm đồ ăn Trung Quốc cho mẹ đấy.”

    Tôi không thèm để ý, đi thẳng đến bàn, cầm hộp sữa lên, “gụp gụp” đổ thẳng vào cốc cà phê của hắn.

    Sữa bắn tung tóe, dính đầy người hắn.

    “Kiến Quốc, sao ông không uống? Không phải ông thích nhất cà phê sữa tôi pha sao?”

    Tôi ngẩng đầu nhìn hắn, ánh mắt mơ hồ, miệng lại gọi tên người chồng đã mất của tôi hơn hai mươi năm trước.

    “Phụt—”

    Trương Vĩ chưa kịp nuốt ngụm cà phê, đã phun hết ra ngoài.

    Hắn đứng sững, cà phê chảy dọc theo chiếc sơ mi đắt tiền, trông vô cùng nhếch nhác.

    Phương Tĩnh cũng sững sờ, đứng chết trân tại chỗ.

    “Mẹ! Người đó không phải ba! Mẹ nhìn kỹ đi!”

    Nó gần như phát khóc.

    Nhưng tôi dường như không nghe thấy, vẫn cố chấp đổ thêm sữa, miệng lẩm bẩm:

    “Kiến Quốc, ông đừng giận… tôi không cố ý… sao ông không nói gì…”

    Sắc mặt Trương Vĩ lúc xanh lúc trắng, vô cùng đặc sắc.

    Tôi nhìn thấy trong mắt hắn lóe lên cơn giận dữ, nhưng rất nhanh đã bị một thứ khác thay thế—

    Một sự vui mừng bệnh hoạn, không thể kìm nén.

    Hắn không những không nổi giận, mà còn lau miệng, đổi sang vẻ “thông cảm”:

    “Tĩnh Tĩnh, đừng lo. Mẹ có lẽ bay lâu quá, lại lệch múi giờ nên tinh thần hơi rối loạn. Người già mà, chuyện này bình thường.”

    Vừa nói, hắn vừa đưa cho tôi khăn giấy, giọng dịu dàng đến giả tạo:

    “Mẹ, không sao đâu, từ từ thôi.”

    Tôi nhận lấy khăn, lau loạn xạ trên bàn, miệng vẫn lẩm bẩm chuyện xưa:

    Lúc thì nói học sinh lớp tôi lại không nộp bài, lúc lại bảo mai phải ra chợ mua cá cho chồng tôi ăn.

    Hai người nhìn tôi—

    Một người ánh mắt đầy lo lắng xót xa.

    Một người ánh mắt lóe lên sự đắc ý của kẻ đã đạt được mục đích.

    Tôi biết, nước cờ đầu tiên của mình—đã đúng.

    Một bà lão tinh thần hỗn loạn, trí nhớ rối loạn…

    So với một bà lão tỉnh táo, cảnh giác—

    Dễ đối phó hơn nhiều.

    Và cũng… dễ “xảy ra tai nạn” hơn.

    Sau bữa sáng hỗn loạn đó, tôi bắt đầu đi loanh quanh trong nhà không mục đích.

    Tôi cầm điều khiển TV làm điện thoại, áp lên tai “alo alo” gọi suốt.

    Tôi ôm con gấu bông của An An như mèo con, vừa dỗ vừa vỗ.

    Trương Vĩ đứng cách đó không xa nhìn tôi, nụ cười càng lúc càng sâu.

    Hắn ghé lại gần Phương Tĩnh, tưởng tôi không nghe thấy mà nói nhỏ:

    “Thấy chưa? Tôi nói rồi mà. Sang Mỹ không hợp nước, tinh thần mẹ xuống hẳn. Thế này cũng tốt…”

    Hắn dừng lại, giọng càng hạ thấp—

    “…làm việc sẽ tiện hơn.”

    Tim tôi trầm xuống, nhưng trên mặt vẫn là vẻ ngu ngơ.

    Buổi chiều, Trương Vĩ mang đến một xấp tài liệu dày, toàn tiếng Anh.

    Hắn đưa bút cho tôi, giọng dỗ dành như trẻ con:

    “Mẹ, đây là thư chào mừng của khu dân cư với đơn xin phúc lợi. Mẹ ký tên ở đây, sau này mỗi tháng sẽ được nhận tiền trợ cấp của Mỹ.”

    Hắn nói như rót mật vào tai.

    Nhưng khóe mắt tôi đã liếc thấy những từ khóa trên đầu trang:

    “Authorization” (Ủy quyền)

    “Property” (Tài sản)

    “Power of Attorney” (Giấy ủy quyền toàn phần)

    Hắn muốn lừa tôi ký giấy chuyển nhượng tài sản!

    Một khi ký, nhà cửa trong nước, toàn bộ tài sản của tôi—đều sẽ rơi vào tay hắn.

    Còn đáng sợ hơn…

    Kết hợp với giấy chứng nhận “mất trí giả” do hắn dựng lên, nếu tôi “chết bất đắc kỳ tử”…

    Mọi thứ đều có thể được che đậy hoàn hảo.

    Âm mưu độc ác, tầng tầng lớp lớp!

    Tôi cầm bút, trên mặt nở nụ cười ngây ngô.

    Rồi ngay chỗ ký tên, tôi bắt đầu… vẽ một con gà.

    “Gà con mổ thóc… cục tác cục tác…”

    Tôi vừa vẽ vừa đọc thành tiếng.

    Nụ cười trên mặt Trương Vĩ đông cứng.

    Hắn trơ mắt nhìn tôi vẽ nguệch ngoạc lên tài liệu pháp lý mà hắn chuẩn bị công phu.

    Tôi cảm nhận được cơn giận trong lòng hắn sắp bùng nổ.

    Gân xanh nổi lên trên trán, bàn tay siết chặt đến trắng bệch.

    Nhưng hắn không thể phát tác.

    Hắn vẫn phải giữ hình tượng “con rể hiếu thảo”.

    “Mẹ… mẹ đang làm gì vậy…”

    Giọng hắn như bị ép ra từ kẽ răng.

    Tôi ngẩng đầu, ngơ ngác nhìn hắn:

    “Vẽ tranh mà. Kiến Quốc thích nhất tranh gà của tôi.”

    “Bộp!”

    Hắn cuối cùng cũng không nhịn được, đập mạnh xuống bàn.

    Tôi “giật mình”, cốc nước trong tay “vô tình” đổ ra—

    Nước tràn lên xấp tài liệu.

    Những trang quan trọng có chữ “Authorization” và “Property” lập tức nhòe hết.

    “Ôi! Nước đổ rồi!”

    Tôi hoảng hốt kêu lên, luống cuống lau bằng tay áo, càng lau càng rối, giấy gần như bị vò nát.

    “Đủ rồi!”

    Trương Vĩ cuối cùng cũng bùng nổ, giật lại xấp tài liệu ướt nhẹp, sắc mặt tối sầm.

    Phương Tĩnh vội vàng chạy đến đỡ tôi:

    “Mẹ, mẹ không khỏe sao? Con đưa mẹ về phòng nghỉ nhé?”

    Tôi dựa vào người nó, rên rỉ:

    “Đau đầu… muốn ngủ…”

    Khi Trương Vĩ quay đi xử lý đống giấy hỏng, Phương Tĩnh dẫn tôi ra vườn sau “tản bộ”.

    Nó thở dài liên tục, vẻ mặt nặng nề.

    Còn tôi thì giả vờ tò mò, chỗ nào cũng nhìn, cũng sờ.

    Nhân lúc nó quay lưng nghe điện thoại, tôi liếc thấy một cái kho dụng cụ hé mở ở góc tường.

    Tôi lảo đảo “đi” tới, giả vờ xem mấy món đồ rỉ sét bên trong.

    Ngay khoảnh khắc nó quay đầu lại—

    Tôi đã nhanh tay rút ra một chiếc xẻng làm vườn nhỏ nhất, nhét vào túi áo rộng bên trong.

    Khi nó đến gần, tôi đã cầm một cành cây khô, vẽ loạn trên đất, miệng lẩm bẩm vô nghĩa.

    Cả ngày hôm đó, dưới sự giám sát của họ—

    Tôi hoàn hảo diễn tròn vai một bà lão lú lẫn vừa đáng thương vừa phiền phức.

    Tôi biết, sự cảnh giác của họ với tôi… đã hạ xuống mức thấp nhất.

    Còn tôi—

    Đã có vũ khí.

    04

    Từ hôm đó, tôi có thêm một “tật xấu”.

    Nhặt rác.

    Bất kỳ thứ gì Trương Vĩ vứt đi—

    Một tờ giấy, một hộp đồ, một hộp pizza rỗng—

    Trong mắt tôi đều trở thành “bảo vật”.

    Tôi sẽ ôm những “thứ rác” đó về phòng như khoe báu vật, rồi cẩn thận giấu dưới gầm giường.

    “Nhìn mẹ cô kìa, đúng là lú hẳn rồi. Nhặt mấy thứ rác rưởi đó làm gì chứ.”

    Trương Vĩ không chỉ một lần nói với con gái tôi, Phương Tĩnh như vậy, giọng đầy khinh bỉ và coi thường.

    Phương Tĩnh chỉ im lặng.

    Trương Vĩ ngày càng mất kiên nhẫn với tôi, đồng thời cũng ngày càng lơi lỏng cảnh giác.

    Trong mắt hắn, tôi chỉ là một phiền toái, một “bệnh nhân sa sút trí tuệ” biết đi, một công cụ chỉ cần trông chừng không để đi lạc, rồi chờ “xảy ra tai nạn”.

    Hắn không biết rằng, những thứ hắn gọi là “rác rưởi” kia… chính là vật liệu duy nhất để tôi vẽ nên bản đồ chạy trốn.

    Đêm khuya thanh vắng, tôi khóa trái cửa nhà vệ sinh, dựa vào chút ánh sáng yếu ớt còn lại từ màn hình điện thoại (điện thoại của tôi đã bị họ thu mất, nhưng tôi cạy được một cục pin nhỏ từ đồ chơi của An An, nối tạm bằng hai sợi dây, đủ để màn hình sáng lên trong chốc lát), rồi lặng lẽ ghép từng “mảnh rác” lại.

    Một bức thư báo nợ bị vò nát, phần địa chỉ người nhận trên phong bì đã bị xé mất một nửa. Tôi dùng bút chì lần từng nét một, cuối cùng cũng khôi phục được địa chỉ chính xác của căn nhà này—tên đường và số nhà.

    Một tờ hóa đơn giao pizza bị vứt đi, trên đó in logo, số điện thoại và địa chỉ của một chuỗi cửa hàng pizza. Đây là một tọa độ quan trọng—chứng tỏ khu vực này có người, có khu thương mại, có điện thoại để cầu cứu.

    Tôi còn nhìn thấy trên một tờ quảng cáo siêu thị bị vứt đi một bản đồ đơn giản. Dù khá mờ, tôi vẫn nhận ra được tên của vài con đường chính.

    Tôi dùng chính cây bút từng vẽ con gà kia, lén ghi lại tất cả thông tin lên mặt trong bìa cuốn “Đường thi Tống từ tuyển giảng” mà tôi mang từ trong nước sang.

    Ở đó, là tấm bản đồ dẫn đến con đường sống—do chính tay tôi vẽ nên.

    Tôi còn phát hiện ra một quy luật.

    Mỗi ngày đúng ba giờ chiều, Trương Vĩ đều xuống tầng hầm.

    Sau đó cửa tầng hầm đóng chặt, bên trong vang lên tiếng hắn gọi điện, chửi rủa và đập phá đồ đạc trong cơn bực bội bị kìm nén.

    Tôi đoán hắn đang nói chuyện với chủ nợ.

    Khoảng thời gian này thường kéo dài hơn một tiếng.

    Đây là lúc tinh thần hắn căng thẳng nhất, nóng nảy nhất—

    Nhưng cũng là lúc hắn lơi lỏng cảnh giác nhất.

    Còn mỗi buổi chiều, Phương Tĩnh đều đưa An An ra sau vườn chơi xích đu khoảng nửa tiếng.

    Vị trí của họ quay lưng về phía nhà, tầm nhìn bị căn nhà che khuất hoàn toàn.

    Đây chính là cơ hội duy nhất của tôi.

    Tôi lên kế hoạch, vào ba giờ chiều ngày mai, khi Trương Vĩ đang ở tầng hầm, Phương Tĩnh và An An ở sân sau—

    Tôi sẽ hành động.

    Nhưng tôi vẫn còn thiếu một thứ.

    Tiền.

    Ở nơi đất khách xa lạ này, không có tiền, tôi không thể đi đâu được.

    Bỗng nhiên tôi nhớ ra, chiếc áo bông xanh đậm tôi mặc khi sang đây là do chính tay tôi may.

    Tôi có một thói quen nhiều năm—

    Trong mỗi chiếc áo khoác dày tự may, tôi đều khâu một túi nhỏ kín đáo ở bên trong, để giấu tiền phòng thân.

    Phòng bất trắc.

    Lần này, tôi đã giấu vào đó 200 đô la Mỹ, đổi từ ngân hàng trước khi đi.

    Chiếc áo bông đó đã bị Phương Tĩnh cất vào tủ quần áo ngoài phòng khách.

    Tôi phải lấy lại nó.

    Đêm đó, tôi lại dùng chiêu cũ.

    Tôi bắt đầu “mộng du”.

    Tôi đi chân trần, miệng lẩm nhẩm những câu hát lạc nhịp, lượn lờ trong căn nhà tối om.

    Đầu tiên tôi mở tủ lạnh, đứng ngẩn ra một lúc lâu.

    Rồi lại đi kéo rèm cửa.

    Trong phòng khách, Trương Vĩ ngủ trên ghế sofa giường bị tôi làm thức giấc, hắn chửi một câu “bà già chết tiệt”, nhưng thấy tôi chỉ loay hoay vô nghĩa, liền lật người ngủ tiếp.

    Phương Tĩnh cũng bước ra, định dìu tôi về phòng.

    Đúng lúc nó kéo tôi lại, tôi “vừa hay” lảo đảo đến trước tủ quần áo phòng khách, giật mạnh cửa tủ ra.

    Quần áo bên trong rơi xuống.

    Tôi như tìm được đồ chơi mới, bắt đầu ném từng món ra ngoài.

    “Quần áo của Kiến Quốc… váy của Tĩnh Tĩnh…”

    Miệng tôi lẩm bẩm linh tinh.

    Phương Tĩnh bối rối chạy theo dọn dẹp.

    Trong lúc hỗn loạn đó, tôi chính xác tìm được chiếc áo bông xanh đậm, ôm chặt vào lòng như báu vật.

    “Cái này của tôi… của tôi…” tôi cố chấp nói.

    Phương Tĩnh bất lực, chỉ đành để tôi ôm áo về phòng.

    Nhưng chưa hết.

    Trên đường “mộng du” về phòng, tôi đi ngang qua ghế sofa.

    Chân tôi trượt một cái, “vô tình” ngã xuống đất.

    Ngay khoảnh khắc Phương Tĩnh hốt hoảng chạy đến đỡ tôi—

    Tay tôi đã nhanh như chớp thò vào khe ghế sofa mà ban ngày tôi đã quan sát kỹ, lấy cuốn hộ chiếu mà tôi “vô tình làm mất” ra khỏi phòng, lặng lẽ giấu sâu vào dưới đệm ghế.

    Đó là vị trí thuận tiện nhất khi tôi bỏ trốn—

    Vừa tiện đường, vừa dễ lấy.

    Phương Tĩnh đỡ tôi về giường, thở dài mệt mỏi, rồi đóng cửa lại.

    Tôi nằm trong bóng tối, ôm chặt chiếc áo bông, cảm nhận rõ ràng độ dày của 200 đô la trong túi áo.

    Xẻng làm vườn.
    Bản đồ.
    Tiền.
    Hộ chiếu.

    Mọi thứ đã sẵn sàng.

    Tôi nhìn ra khe cửa sổ hẹp.

    Bên ngoài là màn đêm sâu thẳm không đáy.

    Tôi biết, ngày mai… sẽ là ngày quan trọng nhất trong sáu mươi hai năm cuộc đời tôi.

    Thất bại—tôi chết.

    Hai giờ năm mươi phút chiều.

    Cả căn nhà yên tĩnh đến mức có thể nghe thấy tiếng kim rơi.

    Tôi ngồi trên ghế trong phòng, giả vờ gật gù ngủ, nhưng từng dây thần kinh đều căng như dây cung.

    Hai giờ năm mươi lăm phút.

    Tôi nghe Phương Tĩnh nói với An An:

    “An An, ra sau vườn chơi xích đu nhé?”

    Con bé ngoan ngoãn đáp lại.

    Tiếng bước chân xa dần, cửa sau mở ra rồi đóng lại.

    Hai giờ năm mươi chín phút.

    Trong phòng khách, Trương Vĩ bồn chồn đi qua đi lại, giày da gõ xuống sàn phát ra tiếng “cộp cộp”.

    Ba giờ đúng.

    Cửa tầng hầm mở ra, rồi đóng sầm lại.

    Ngay sau đó là tiếng hắn gầm gừ như thú bị nhốt.

    Chính là lúc này!

    Tôi bật dậy khỏi ghế, lao đến cửa phòng với tốc độ nhanh nhất trong đời—khóa trái!

    Rồi tôi rút từ trong áo ra chiếc xẻng làm vườn lạnh ngắt.

    Tôi lao đến cửa sổ, dồn toàn bộ sức lực, cắm mạnh đầu xẻng vào khe giữa thanh gỗ đóng đinh và khung cửa.

    Một lần, hai lần, ba lần!

    Cơ tay tôi đau nhức, mồ hôi rịn ra trên trán.

    Tôi không phải một bà lão yếu đuối.

    Tôi là một người mẹ muốn sống, một người bà muốn bảo vệ gia đình!

    “Rắc!”

    Một tiếng giòn vang—cây đinh đầu tiên đã bị tôi nạy lỏng!

    Tim tôi nhảy lên vì mừng, tay càng thêm mạnh.

    Mồ hôi chảy vào mắt cay xè, nhưng tôi không dám dừng.

    Thời gian trôi qua từng giây.

    Cuối cùng, sau khi làm gãy hai móng tay, thanh gỗ cuối cùng bị tôi bật tung ra.

    Tôi mở chốt, đẩy mạnh cửa sổ.

    Không khí tươi mới—mùi của tự do—ập vào.

    Tôi nhìn xuống.

    Tầng hai không quá cao, nhưng bên dưới là nền bê tông cứng.

    Bên tường có một ống thoát nước to chạy từ mái xuống đất.

    Đó là con đường duy nhất.

    Tôi không do dự, trèo lên bậu cửa, bám vào ống nước lạnh buốt, chân đạp vào tường, trượt dần xuống.

    Bề mặt thô ráp cọ xát khiến tay và đầu gối tôi rách toạc, đau rát.

    Nhưng tôi không quan tâm.

    Trong đầu tôi chỉ có một ý nghĩ—

    Xuống, nhanh xuống!

    Khi chân chạm đất, tôi loạng choạng rồi ngã sấp xuống.

    Đầu gối tôi đập mạnh xuống nền xi măng, cơn đau dữ dội ập đến, nhưng tôi lập tức bò dậy.

    Tôi không chạy ngay ra đường lớn.
    Tôi còn một việc quan trọng nhất chưa làm.

    Tôi lao tới dưới cửa sổ phòng khách, xuyên qua lớp kính, tôi nhìn thấy bộ sofa đó.
    Hộ chiếu!

    Nhưng cửa trước đang bị khóa!

    Tôi cuống cuồng xoay vòng, chẳng lẽ phải đập vỡ kính sao? Như vậy động tĩnh sẽ quá lớn!

    Đúng lúc tôi đang sốt ruột đến cực điểm, từ sân sau bỗng truyền đến tiếng khóc xé lòng của An An.

    “Á! Ong! Mẹ ơi! Có ong đốt con! Đau quá!”

    Giọng hoảng loạn của Phương Tĩnh lập tức vang lên:
    “An An đừng sợ! Mẹ xem nào! Ong ở đâu?”

    Tôi sững người.

    Ngay sau đó, một dòng ấm nóng xen lẫn chua xót dâng trào trong lòng.

    An An của tôi! Đứa cháu gái thông minh và dũng cảm của tôi!

    Con bé đã nhìn thấy!
    Nhất định là khi chơi ở sân sau, con bé đã nhìn thấy tôi trèo xuống từ cửa sổ!

    Con bé đang tạo cơ hội cho tôi!

    Tôi không dám chần chừ thêm nữa, lập tức lao tới cửa trước.

    Cảm ơn trời, Trương Vĩ – cái tên ngu ngốc tự cao đó – vì muốn tạo ra “cảm giác gia đình”, nên cửa trước chỉ bị chốt từ bên trong, chứ không khóa chết.

    Tôi ghé qua ô cửa nhỏ trên cánh cửa, dùng cán xẻng làm vườn với vào bên trong, chạm được vào núm vặn, rồi mạnh tay xoay.

    “Cạch” một tiếng, cửa mở ra.

    Tôi lách người vào nhà, lao thẳng tới sofa, tay chính xác thò vào khe quen thuộc, chạm được cuốn hộ chiếu màu xanh đậm.

    Tôi nhét chặt nó vào lòng, như ôm lấy mạng sống của mình.

    Sau đó, tôi lao ra ngoài, theo con đường đã diễn tập vô số lần trong đầu, chạy điên cuồng về phía con đường lớn nơi có tiệm pizza trong ký ức!

    Cả đời này tôi chưa từng chạy nhanh đến thế.

    Gió rít bên tai, tim tôi đập dồn dập trong lồng ngực.

    Chưa chạy được bao xa, phía sau đột nhiên vang lên tiếng gào giận dữ của Trương Vĩ:

    “Người đâu?! Con mụ già đó chạy rồi!!”

    Ngay sau đó là tiếng động cơ xe bị nổ máy một cách thô bạo!

    Hắn phát hiện tôi chạy rồi!

    Tôi quay đầu nhìn, chiếc SUV màu đen như con thú dữ vừa xổng chuồng, đang lao thẳng về phía tôi.

    Tôi hồn vía lên mây, không kịp suy nghĩ, lao thẳng vào khu rừng ven đường!

    Cành cây và gai nhọn lập tức rạch toạc quần áo và da thịt tôi, nhưng tôi không dám dừng lại.

    Tôi giống như con thú bị thợ săn dồn đến đường cùng, tay chân cùng dùng, không phân biệt phương hướng, chỉ biết liều mạng chạy sâu vào trong rừng, càng xa con đường kia càng tốt.

    Phía sau, tiếng chửi rủa của Trương Vĩ và tiếng còi xe vang vọng ở rìa rừng, như tiếng gọi hồn từ địa ngục.

    Phải sống!

    Tôi nhất định phải sống!

    Tôi không biết mình đã trốn trong rừng bao lâu.

    Cho đến khi trời dần tối xuống, tiếng động cơ của chiếc SUV màu đen dường như cũng hoàn toàn biến mất.

    Tôi dựa vào một thân cây thô ráp, thở hổn hển từng hơi.

    Toàn thân không chỗ nào là không đau.

    Lòng bàn tay, đầu gối, má – tất cả đều là những vết xước do cành cây gây ra.

    Quần áo bị xé rách tả tơi, cả người tôi thảm hại như một kẻ ăn xin.

    Vừa lạnh, vừa đói, vừa sợ.

    Nhưng tôi biết, mình không thể dừng lại ở đây.

    Trương Vĩ có thể quay lại bất cứ lúc nào, thậm chí còn báo cảnh sát rằng một “bà già bị mất trí nhớ” đã đi lạc.

    Tôi phải nhanh chóng tìm người cầu cứu.

    Tôi xác định phương hướng, lần theo hướng rời xa căn nhà đó, khập khiễng đi xuyên qua khu rừng.

    Đi khoảng hơn một tiếng, cuối cùng tôi cũng ra khỏi rừng, trở lại con đường nhựa.

    Trời đã gần tối hẳn.

    Trên đường xe cộ thưa thớt, thỉnh thoảng có xe chạy qua cũng lao đi vun vút, chẳng ai dừng lại vì một bà lão châu Á quần áo rách rưới đứng bên đường.

    Trái tim tôi dần lạnh xuống.

    Ngay lúc tôi gần như tuyệt vọng, một chiếc xe tải đường dài khổng lồ bật đèn, chậm rãi dừng lại bên lề đường phía trước.

    Một người tài xế da trắng thân hình vạm vỡ nhảy xuống xe, dường như đang kiểm tra lốp.

    Đây là cơ hội của tôi!

    Tôi gom hết can đảm, chạy về phía anh ta.

    “Sir! Help! Help me!”

    Tôi dùng vài từ tiếng Anh ít ỏi mình biết, lo lắng kêu lên.

    Người tài xế bị tôi làm cho giật mình, cảnh giác nhìn tôi.

    Tôi không còn lựa chọn nào khác, móc từ túi ra tờ 100 đô đã ướt đẫm mồ hôi, nhét vào tay anh ta, rồi chắp tay lại, dùng tư thế thấp kém nhất, liên tục lặp lại một từ:

    “City! City! Please!”

    Tôi chỉ về phía thành phố, rồi chỉ vào mình, khuôn mặt đầy vẻ cầu xin.

    Người tài xế nhìn tôi – một bà lão châu Á đầy vết thương, vẻ mặt hoảng loạn – rồi lại nhìn tờ tiền trong tay, sự cảnh giác trên mặt dần biến thành do dự và thương cảm.

    Cuối cùng, anh ta thở dài, gật đầu, chỉ về phía thùng xe phía sau.

    Tôi xúc động đến mức suýt bật khóc, liên tục cảm ơn, rồi leo lên khoang xe tối tăm nồng mùi dầu diesel.

    Chiếc xe lại khởi động, tôi nép giữa đống hàng hóa, cảm nhận sự rung lắc của thân xe, nhưng trong lòng lại thấy an tâm chưa từng có.

    Tôi được cứu rồi.

    Tạm thời an toàn rồi.

    Không biết xe chạy bao lâu, cuối cùng cũng dừng lại ở một nơi sáng rực ánh đèn.

    Tài xế mở cửa thùng xe, nói với tôi vài câu tôi không hiểu, nhưng tôi nhìn thấy nụ cười thân thiện trên mặt anh ta.

    Tôi leo xuống xe, định đưa nốt số tiền còn lại cho anh ta, nhưng anh ta xua tay từ chối.

    Tôi cúi người thật sâu cảm ơn anh.

    Rồi tôi ngẩng đầu lên, nhìn rõ khung cảnh xung quanh.

    Những chữ Hán quen thuộc, những chiếc đèn lồng đỏ, mùi thức ăn lan tỏa trong không khí…

    Biển hiệu của nhà hàng, hiệu thuốc, siêu thị – tất cả đều là tiếng Trung mà tôi có thể đọc hiểu.

    Đây là khu phố người Hoa!

    Khoảnh khắc đó, tất cả sự kiên cường và giả vờ bình tĩnh của tôi đều sụp đổ.

    Tôi ngồi xổm bên đường, bật khóc nức nở.

    Trong tiếng khóc có sự may mắn thoát chết, có nỗi lo cho con gái và cháu ngoại, cũng có sự uất ức và sợ hãi vì những gì đã trải qua mấy ngày nay.

    Không biết đã khóc bao lâu, tôi mới lau khô nước mắt, chống tường đứng dậy.

    Tôi bước vào một quán ăn nhỏ trông thân quen nhất, tên là “Hương Vị Quê Nhà”.

    Tôi dùng số tiền còn lại trong túi, gọi một bát mì bò nóng hổi.

    Tôi đói đến mức ăn ngấu nghiến, ăn sạch cả bát, uống cạn cả nước dùng.

    Bà chủ quán – một người phụ nữ trung niên hơn bốn mươi tuổi, gương mặt hiền lành – vẫn luôn lặng lẽ quan sát tôi.

    Đợi tôi ăn xong, bà mang tới một cốc nước nóng, nhẹ giọng hỏi:

    “Chị à, chị… gặp chuyện gì vậy?”

    Có lẽ là bát mì nóng vừa rồi đã làm ấm dạ dày, cũng có lẽ là câu hỏi mang theo giọng quê ấy khiến tôi hoàn toàn buông bỏ phòng bị.

    Tôi nhìn bà, nước mắt lại trào ra.

    Tôi cầm cốc nước nóng, dùng tốc độ nhanh nhất, kể lại ngắn gọn những gì mình đã trải qua trong mấy ngày qua.

    Từ lời cảnh báo của cháu ngoại lúc xuống máy bay, đến căn nhà bị giam giữ, đến ly nước bị bỏ thuốc, rồi cả bức tranh bảo hiểm trị giá một triệu đô…

    Ban đầu bà chủ còn bán tín bán nghi, biểu cảm trên mặt từ cảm thông dần chuyển thành kinh ngạc.

    Khi bà thấy cuốn hộ chiếu tôi lấy ra từ trong lòng, nhìn thấy những vết thương còn rỉ máu trên người tôi, sự nghi ngờ hoàn toàn biến thành phẫn nộ và thương xót.

    “Lũ súc sinh! Không phải con người!” bà đập mạnh đùi, hạ giọng chửi.

    Bà lập tức nắm lấy tay tôi, đưa tôi vào phòng kho phía sau quán.

    “Chị à, chị cứ trốn ở đây trước, ở đây an toàn! Tôi sẽ nghĩ cách giúp chị ngay!”

    Bà nói với tôi, mấy năm gần đây, những vụ lừa người già từ trong nước sang Mỹ để chiếm đoạt tài sản, thậm chí là tính mạng, bà đã nghe không ít.

    Tôi không phải người đầu tiên, cũng tuyệt đối không phải người cuối cùng.

    Bà lấy điện thoại ra, vẻ mặt nghiêm trọng nói với tôi:

    “Chị à, mình không báo cảnh sát. Có khi cảnh sát còn không xử lý rõ ràng, lại bị thằng đó cắn ngược.

    Mình tìm thẳng đại sứ quán! Tìm người của nước mình!”

    Bà nhanh chóng tra được trên mạng số điện thoại bảo hộ lãnh sự của Tổng lãnh sự quán Trung Quốc tại địa phương.

    Khi bà đưa chiếc điện thoại đã được kết nối vào tay tôi, nghe thấy bên trong vang lên câu “Xin chào, đây là Lãnh sự quán Trung Quốc” quen thuộc mà thân thiết, tôi không kìm được nữa, bật khóc nức nở.

    “Cứu tôi… xin hãy cứu tôi…”

    Tôi dùng giọng run rẩy nhưng rõ ràng, báo tên mình, số hộ chiếu, cùng địa chỉ căn nhà giam cầm của Trương Vĩ mà tôi đã khắc sâu trong đầu.

    Người ở đầu dây bên kia bình tĩnh, chắc chắn trấn an tôi:
    “Thưa bà, xin đừng sợ. Hãy cho chúng tôi biết vị trí hiện tại của bà, chúng tôi sẽ lập tức cử người đến!”

    Cọng rơm cứu mạng, cuối cùng tôi cũng nắm chặt được.

    Chưa đến nửa tiếng sau, cửa kho bị gõ vang.

    Bà chủ mở cửa, hai người đàn ông trẻ mặc vest chỉnh tề, vẻ mặt nghiêm nghị bước vào.

    Một người đưa thẻ ra:
    “Bà Khương Tú Lan phải không? Chúng tôi là nhân viên của Lãnh sự quán nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Bà đã an toàn rồi.”

    Một câu nói đơn giản mà dứt khoát, khiến trái tim đang treo lơ lửng của tôi cuối cùng cũng hạ xuống.

    Đi cùng họ còn có một luật sư người Hoa, gương mặt sắc sảo.

    Sau khi xác nhận thân phận của tôi, nhìn thấy tình trạng đầy thương tích, họ lập tức quyết định đưa tôi đến nơi an toàn trước, đồng thời liên hệ bác sĩ.

    Tại một phòng khám tư do người Hoa mở, bác sĩ giúp tôi rửa sạch vết thương, băng bó lại.

    Cơn đau kích thích thần kinh, cũng khiến tôi tỉnh táo hơn.

    Trong một căn phòng khách sạn đã được sắp xếp sẵn, tuyệt đối an toàn, tôi đối diện với nhân viên lãnh sự và vị luật sư họ Vương, kể lại toàn bộ những gì xảy ra trong bảy mươi hai giờ qua, không giấu giếm điều gì.

    Tôi nhắc đến ly nước có mùi thuốc ngủ.
    Tôi nhắc đến bức tranh “bảo hiểm nhân thọ một triệu đô” do An An vẽ.
    Tôi nhắc đến những tài liệu in dòng chữ “ủy quyền tài sản” mà Trương Vĩ ép tôi ký.

    Tôi còn nhắc đến những vết bầm trên cổ tay con gái tôi – Phương Tĩnh, và ánh mắt tê dại, hoảng sợ của con bé.

    “Tôi nghi ngờ con gái tôi bị chồng bạo hành gia đình và kiểm soát tinh thần trong thời gian dài.” Tôi nói dứt khoát.

    Luật sư Vương nghe xong, sắc mặt ngày càng nghiêm trọng.

    Ông đẩy gọng kính, phân tích bằng giọng cực kỳ chuyên nghiệp:
    “Bà Khương, nếu lời bà hoàn toàn là sự thật, thì hành vi của Trương Vĩ đã cấu thành nhiều tội nghiêm trọng. Bao gồm nhưng không giới hạn ở giam giữ trái phép, cưỡng ép, và lừa đảo chưa thành. Nếu hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đó thực sự tồn tại, và được mua vào thời điểm trước hoặc ngay sau khi bà nhập cảnh, thì tính chất còn nghiêm trọng hơn, hoàn toàn có thể cấu thành tội mưu sát có chuẩn bị.”

    “Tôi nhớ tên công ty bảo hiểm trong bức tranh của An An,” tôi cố hồi tưởng, “hình như là ‘Prudential’ (Bảo Thành), đặc điểm số đơn… An An còn vẽ mấy ký hiệu giống chữ ‘S’ như con rắn trên đó.”

    Luật sư Vương lập tức ghi lại.

    “Rất tốt, đây đều là manh mối cực kỳ quan trọng.”

    Dưới sự đi cùng của nhân viên lãnh sự, tôi đến đồn cảnh sát địa phương để chính thức trình báo.

    Ban đầu, cảnh sát tiếp nhận thấy tôi là một bà lão người nước ngoài không biết tiếng, thái độ khá qua loa.

    Nhưng khi nhân viên lãnh sự xuất trình giấy tờ ngoại giao, dùng tiếng Anh lưu loát giải thích mức độ nghiêm trọng của vụ việc, luật sư Vương lại trực tiếp từ góc độ pháp lý chỉ ra đây có thể là một vụ án nghiêm trọng liên quan đến tội phạm xuyên quốc gia, thì thái độ của cảnh sát lập tức thay đổi hoàn toàn.

    Họ nhanh chóng nhận ra tính nghiêm trọng của sự việc, lập án ngay, đồng thời phân công điều tra viên chuyên trách xử lý.

    Nhân viên lãnh sự sắp xếp cho tôi chuyến bay về nước sớm nhất.

    “Bà Khương, bà cứ về nước nghỉ ngơi trước, những việc còn lại chúng tôi và luật sư sẽ tiếp tục xử lý.”

    Tôi nhìn họ, lắc đầu.

    Giọng tôi không lớn, nhưng từng chữ đều kiên định không thể lay chuyển:

    “Tôi không đi.”

    Mọi người đều sững lại.

    “Con gái tôi, cháu ngoại tôi vẫn còn bị nhốt trong tay con quỷ đó. Chúng vẫn đang sống trong sợ hãi.”

    Tôi nhìn thẳng vào mắt luật sư Vương.

    “Tôi phải ở lại. Tôi muốn tận mắt nhìn thấy hắn bị còng tay. Tôi muốn chắc chắn con gái và cháu ngoại tôi thật sự được an toàn và tự do.”

    Thái độ của tôi khiến tất cả mọi người có mặt đều nảy sinh sự kính trọng.

    Luật sư Vương nhìn tôi, ánh mắt thoáng qua vẻ tán thưởng.

    “Được. Nếu bà đã quyết định ở lại, vậy chúng ta phải chủ động ra tay.”

    Ông nhanh chóng viết lên giấy, một kế hoạch rõ ràng dần hiện ra trước mắt tôi.

    “Chúng ta cần những bằng chứng mạnh hơn để phá vỡ vụ án này. Mà điểm đột phá tốt nhất chính là bạo lực gia đình.”

    Tiếng kèn phản công, chính thức vang lên từ khoảnh khắc này.

    Tôi không còn là con mồi hoảng loạn chạy trốn trong rừng nữa.

    Từ giờ trở đi, tôi – Khương Tú Lan – sẽ trở thành thợ săn.

    Kế hoạch của luật sư Vương, nhanh và chuẩn xác.

    “Tại Mỹ, những cáo buộc liên quan đến bạo lực gia đình với trẻ vị thành niên là loại vụ án mà cảnh sát phản ứng nhanh nhất và sẵn sàng can thiệp nhất. Một khi Cơ quan Bảo vệ Trẻ em (CPS) vào cuộc, họ có quyền tạm thời tách đứa trẻ khỏi người bị nghi ngờ bạo hành, ngay cả khi chưa có chứng cứ đầy đủ.”

    Tim tôi lập tức thắt lại.

    “Cháu ngoại của bà – An An, tuy chưa bị bạo hành về thể chất, nhưng việc chứng kiến bạo lực của cha đối với mẹ trong thời gian dài, cũng như sống trong một gia đình đầy sợ hãi và âm mưu như vậy, bản thân đã cấu thành bạo hành tinh thần nghiêm trọng. Đây chính là vũ khí mạnh nhất của chúng ta.”

    Sáng hôm sau, dưới sự hướng dẫn của luật sư Vương, tôi cung cấp thêm lời khai bổ sung cho cảnh sát và CPS.

    Tôi mô tả chi tiết những vết bầm chồng chéo mới cũ trên cổ tay con gái, sự sợ hãi co rúm của con bé trước mặt chồng, cũng như sự trưởng thành sớm bất thường và cảnh giác của An An.

    “Một đứa trẻ sáu tuổi phải dùng cách gây nôn để phát tín hiệu cầu cứu — bản thân điều đó đã là bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy gia đình này đã mục ruỗng đến tận cùng!” tôi nói.

    Ngay sáng hôm đó, hai xe cảnh sát và một xe công vụ mang logo CPS lặng lẽ dừng trước căn nhà cô độc kia.

    Tôi không có mặt, nhưng có thể tưởng tượng ra cảnh tượng đó.

    Trương Vĩ mở cửa, nhìn thấy một hàng cảnh sát và nhân viên chính phủ với vẻ mặt nghiêm nghị đứng trước cửa, gương mặt giả tạo của hắn sẽ biến dạng như thế nào.

    Sau này luật sư Vương nói với tôi, phản ứng của Trương Vĩ hoàn toàn đúng như ông dự đoán.

    Ban đầu hắn kinh hoàng, mặt trắng bệch, nhưng rất nhanh đã cố trấn tĩnh, nở nụ cười giải thích rằng tôi chỉ là một bà già có vấn đề về tinh thần, bỏ nhà đi.

    Nhưng cảnh sát lập tức xuất trình lệnh điều tra do thẩm phán ký.

    Sau khi vào nhà, họ lập tức tách Phương Tĩnh và Trương Vĩ ra, đưa vào hai phòng khác nhau để thẩm vấn riêng.

    Một nữ cảnh sát dày dạn kinh nghiệm cùng một nhân viên nữ của CPS phụ trách trao đổi với Phương Tĩnh và An An.

    Không có chất vấn gay gắt, chỉ có sự dẫn dắt nhẹ nhàng.

    Nữ cảnh sát nhìn Phương Tĩnh, khẽ nói:
    “Cô Phương, chúng tôi ở đây là để giúp cô và con cô. Bây giờ, cô có thể nói hết mọi chuyện rồi. Không ai có thể làm hại cô nữa.”

    Phương Tĩnh nhìn An An đang bám chặt bên mình, rồi liếc về cánh cửa đóng kín phía sau nữ cảnh sát — ngoài cánh cửa đó là con quỷ đã kiểm soát cuộc đời cô suốt nhiều năm.

    Còn trong căn phòng này là pháp luật, là hy vọng, là cơ hội duy nhất để cô thoát khỏi vực sâu.

    Sợi dây phòng vệ đã căng suốt nhiều năm trong lòng cô, cuối cùng cũng đứt gãy hoàn toàn.

    Cô òa khóc nức nở.

    Vừa khóc, cô vừa kéo tay áo lên, cho mọi người thấy những vết thương chằng chịt tím bầm trên cánh tay.

    “Là hắn! Tất cả đều do hắn đánh! Hắn là ác quỷ!”

    Cô thừa nhận việc bản thân bị Trương Vĩ kiểm soát tinh thần, phong tỏa kinh tế và bạo hành trong thời gian dài.

    Sau khi trút được hết cảm xúc, cô như được tái sinh.

    Cô dẫn cảnh sát lên tầng hai, từ một ngăn bí mật trong tủ quần áo, lấy ra một túi tài liệu.

    Bên trong là toàn bộ chứng cứ phạm tội mà Trương Vĩ giấu kín.

    Bản hợp đồng bảo hiểm nhân thọ trị giá một triệu đô, người thụ hưởng là tôi, ngày mua bảo hiểm — chính là một ngày trước khi tôi lên máy bay!

    Vài giấy chứng nhận y tế giả mạo, ghi rằng tôi “có tiền sử bệnh tâm thần và dấu hiệu sa sút trí tuệ”.

    Cùng với bản hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ tài sản mà hắn chưa kịp ép tôi ký.

    Chứng cứ đầy đủ, không thể chối cãi!

    Tại chỗ, cảnh sát lập tức ban hành lệnh hạn chế khẩn cấp đối với Trương Vĩ vì nghi ngờ bạo lực gia đình nghiêm trọng và ngược đãi trẻ em (bạo hành tinh thần), cấm hắn tiếp xúc với Phương Tĩnh và An An, đồng thời đưa hai mẹ con rời khỏi căn nhà đó, đến nơi trú ẩn dành cho nạn nhân.

    Trong một phòng tiếp khách của khu tạm lánh, cuối cùng tôi cũng được gặp lại con gái và cháu ngoại.

    Khoảnh khắc cánh cửa mở ra, Phương Tĩnh nhìn tôi, môi run run, còn chưa kịp gọi một tiếng “mẹ”, nước mắt đã rơi xuống trước.

    Con bé lao tới, ôm chặt lấy tôi, thân hình gầy yếu run lên bần bật trong lòng tôi.

    “Mẹ… con xin lỗi… con xin lỗi…” con bé nghẹn ngào không thành tiếng.

    An An cũng ôm lấy chân tôi, vùi mặt vào vạt áo, đôi vai nhỏ bé run lên từng hồi.

    Một tay tôi ôm con gái, một tay xoa đầu cháu ngoại.

    Ba bà cháu chúng tôi, trong căn phòng nhỏ ấy, ôm chặt lấy nhau, khóc nức nở.

    Mọi nỗi sợ hãi, tủi nhục, đau đớn, đều theo nước mắt mà trào ra trong khoảnh khắc này.

    Tôi biết, chúng tôi an toàn rồi.

    Có lời khai của Phương Tĩnh và túi chứng cứ kia, tội danh của Trương Vĩ như quả cầu tuyết, càng lăn càng lớn.

    Cảnh sát thông qua công ty bảo hiểm, nhanh chóng xác minh tính xác thực của hợp đồng đó.

    Trương Vĩ đã dùng hạn mức tín dụng cuối cùng của mình, vào đúng ngày trước khi tôi nhập cảnh, mua cho tôi một gói bảo hiểm tai nạn giá trị lớn, người thụ hưởng duy nhất chính là hắn.

    Động cơ giết người, rõ ràng như ban ngày.

    Lệnh bắt giữ chính thức nhanh chóng được ban hành.

    Khi cảnh sát lần nữa tìm đến, Trương Vĩ vẫn đang phát điên gọi điện cho luật sư của mình, cố gắng đổ toàn bộ tội lỗi lên đầu Phương Tĩnh, tự xưng mình mới là nạn nhân bị hãm hại.

    Khi chiếc còng lạnh lẽo khóa chặt cổ tay hắn, hắn hoàn toàn phát điên.

    Hắn điên cuồng gào thét, chửi rủa chúng tôi là kẻ lừa đảo, nói cả nhà tôi hợp mưu sang Mỹ hãm hại hắn – một “công dân Mỹ lương thiện”.

    Trước những chứng cứ không thể chối cãi, màn diễn của hắn trở nên nực cười và yếu ớt.

    Đòn quyết định giáng xuống hắn, lại đến từ chính những chủ nợ mà hắn từng lừa gạt.

    Tin Trương Vĩ bị bắt nhanh chóng lan truyền qua truyền thông.

    Những sòng bạc và tổ chức cho vay nặng lãi đã cho hắn vay tiền, biết chắc không thể thu hồi được nữa, liền đồng loạt báo cảnh sát, cung cấp hàng loạt chứng cứ về việc hắn cờ bạc, làm giả thu nhập để vay tiền.

    Chỉ trong chớp mắt, “tinh anh tài chính” từng hào nhoáng ấy, biến thành một tên lừa đảo, con bạc, kẻ bạo hành gia đình, và nghi phạm mưu sát mẹ vợ để chiếm tiền bảo hiểm.

    Truyền thông người Hoa tại địa phương thậm chí còn đăng tải vụ việc với tiêu đề:
    “Con rể gốc Hoa giăng bẫy tử thần, mẹ vợ là giáo viên nghỉ hưu thoát chết trong gang tấc”

    Cả cộng đồng người Hoa chấn động và phẫn nộ.

    Trương Vĩ bị tạm giam chính thức, thẩm phán xét thấy hắn có nguy cơ bỏ trốn và tiếp tục gây nguy hiểm cho xã hội nên quyết định không cho tại ngoại.

    Chờ đợi hắn, là hàng loạt cáo buộc nghiêm trọng và hàng chục năm tù.

    Sau vài ngày ở khu tạm lánh, lãnh sự quán và hội người Hoa địa phương đã giúp chúng tôi tìm được một căn hộ thuê ngắn hạn an toàn, yên tĩnh.

    Ngày đầu tiên ổn định, việc đầu tiên tôi làm là nắm tay An An, đưa con bé đến một siêu thị gần đó.

    Tôi lấy ra số tiền hơn một trăm đô còn lại trong chiếc áo bông xanh, mua cho An An một cây kem dâu to nhất, đúng vị con bé thích nhất.

    Dưới ánh nắng, An An liếm cây kem, trên gương mặt lần đầu tiên mấy ngày nay nở nụ cười rạng rỡ.

    Nụ cười ấy, như thiên thần, xua tan toàn bộ u ám trong lòng chúng tôi.

    Phương Tĩnh đứng bên cạnh tôi, nhìn An An, dù gương mặt vẫn còn tiều tụy, nhưng trong mắt đã có lại ánh sáng.

    Đó là ánh sáng của hy vọng, của sự hồi sinh.

    Dưới sự động viên của tôi, con bé chính thức nộp đơn ly hôn lên tòa, đồng thời xin lệnh bảo vệ lâu dài.

    Tôi nắm tay con bé, nói:
    “Đừng sợ, có mẹ ở đây. Tiền mất còn kiếm lại được, người còn sống mới là quan trọng nhất.”

    Con bé gật đầu thật mạnh.

    Tôi lại nói:
    “Căn nhà của mẹ ở trong nước, mẹ đã nhờ bạn rao bán rồi. Số tiền đó đủ để chúng ta bắt đầu lại ở đây. Chúng ta không dựa vào ai cả, chỉ dựa vào chính mình.”

    Ngôi nhà trước kia đã là đống hoang tàn.

    Nhưng từ đống hoang tàn ấy, chúng tôi sẽ xây dựng lại mái ấm của riêng mình.

    Ngày phiên tòa diễn ra, bầu trời âm u.

    Trong phòng xử án, không khí trang nghiêm và nặng nề.

    Tôi ngồi hàng đầu khu ghế dự thính, bên cạnh là Phương Tĩnh và luật sư Vương.

    Trên ghế bị cáo, Trương Vĩ mặc đồ tù, đầu cạo trọc, trông tiều tụy hơn nhiều, nhưng ánh mắt vẫn đầy oán độc và không cam lòng.

    Luật sư của hắn, một người da trắng trông lanh lợi sắc sảo, quả nhiên như dự đoán của luật sư Vương, bắt đầu màn biện hộ của mình.

    Hắn cố biến Trương Vĩ thành một nạn nhân bị vợ và mẹ vợ dồn ép đến đường cùng.

    Hắn nói Phương Tĩnh tiêu xài hoang phí, còn tôi thì liên tục đòi hỏi tiền bạc, Trương Vĩ vì muốn đáp ứng chúng tôi nên mới “lỡ” đầu tư thất bại, gánh nợ.

    Thậm chí hợp đồng bảo hiểm cũng bị hắn nói thành “do Phương Tĩnh đề nghị mua để đảm bảo cho gia đình”.

    Đến khi Phương Tĩnh ra làm chứng, trước những câu hỏi dồn dập và ánh mắt như rắn độc của Trương Vĩ từ ghế bị cáo, con bé không tránh khỏi căng thẳng.

    Giọng run rẩy, lời kể đứt quãng, nhiều lần bị đối phương bắt lỗi, công kích.

    Tôi thấy con bé gần như bật khóc.

    Tôi chỉ lặng lẽ nhìn, dùng ánh mắt truyền cho con bé sức mạnh.

    Cuối cùng, thẩm phán tuyên bố:
    “Mời nhân chứng tiếp theo, bà Khương Tú Lan.”

    Tôi hít sâu một hơi, đứng dậy.

    Tôi chỉnh lại quần áo, ngẩng cao đầu, từng bước vững vàng bước lên bục nhân chứng.

    Ánh mắt tôi bình tĩnh mà sắc bén, vượt qua tất cả, nhìn thẳng vào Trương Vĩ trên ghế bị cáo.

    Hắn vô thức tránh ánh nhìn của tôi.

    Tôi không khóc lóc, cũng không gào tố cáo.

    Tôi làm giáo viên cả đời, bục giảng chính là chiến trường của tôi.

    Hôm nay, bục nhân chứng này chính là lớp học của tôi.

    Tôi cất tiếng, giọng rõ ràng, trầm ổn, vang khắp phòng xử:

    “Thưa thẩm phán, thưa các vị bồi thẩm. Tôi sẽ bắt đầu thuật lại toàn bộ sự việc kể từ khoảnh khắc tôi đặt chân xuống sân bay Mỹ.”

    Tôi như đang giảng một bài văn có bố cục chặt chẽ, từng chi tiết, từng đoạn hội thoại, từng điểm bất thường, đều được trình bày rõ ràng, logic.

    “Tôi xin hỏi, một người con rể nhiệt tình đón mẹ vợ lần đầu sang thăm, có vội vàng đòi giữ toàn bộ hộ chiếu và giấy tờ của bà ấy ngay tại sân bay không?”

    “Một gia đình giàu có, hạnh phúc, vừa đổi nhà lớn cho mẹ vợ, có để cửa sổ bị đóng đinh kín mít, hòm thư nhét đầy giấy đòi nợ không?”

    “Một người con gái hiếu thảo, có mang cho mẹ mình một cốc nước đã bị bỏ thuốc ngủ không?”

    Mỗi câu hỏi của tôi, như một chiếc đinh đóng chặt vào lời nói dối của Trương Vĩ.

    Trong hàng ghế bồi thẩm, đã bắt đầu có người gật đầu, xì xào bàn tán.

    Luật sư phía bên kia đứng bật dậy, cố ngắt lời tôi.

    “Phản đối! Nhân chứng đang suy đoán chủ quan! Hơn nữa, chúng tôi có lý do tin rằng do tuổi cao, tinh thần bà ấy không ổn định, ký ức bị rối loạn, thậm chí là bịa đặt!”

    Hắn chỉ vào tôi, đưa ra những giấy chứng nhận “sa sút trí tuệ” giả mạo.

    Tôi nhìn hắn, cười lạnh.

    “Luật sư, ông đang nghi ngờ tình trạng tinh thần của tôi sao?”

    Tôi quay sang, đối diện bồi thẩm đoàn.

    “Nếu tôi thực sự bị sa sút trí tuệ, xin hỏi tôi đã làm thế nào, trong một căn nhà bị kiểm soát nghiêm ngặt, chỉ với một chiếc xẻng nhỏ, lập kế hoạch trốn thoát chi tiết, và trong vòng hai giờ đã cạy cửa sổ, thoát khỏi nơi giam cầm?”

    “Nếu trí nhớ tôi rối loạn, vậy tôi đã làm thế nào, ở nơi đất khách không thông ngôn ngữ, tránh bị truy đuổi, tìm đến khu phố người Hoa, rồi liên hệ được với đại sứ quán nước mình?”

    “Nếu tôi thần trí không tỉnh táo, vậy làm sao tôi có thể đứng ở đây, dùng logic rõ ràng như vậy, nói ra từng câu như vừa rồi?”

    Giọng tôi càng lúc càng vang, đầy sức mạnh.

    Cả phòng xử im phăng phắc.

    Tôi kể về An An – đứa trẻ mới sáu tuổi – đã dũng cảm nuốt mẩu giấy cầu cứu trước mặt nhân viên hải quan, rồi nửa đêm tự móc họng nôn ra để đưa cho tôi như thế nào.

    Cả phòng xử xôn xao.

    Nhiều bồi thẩm viên lộ rõ vẻ kinh hoàng và phẫn nộ.

    Cuối cùng, tôi nhìn họ – những người sẽ quyết định số phận Trương Vĩ – và nói chậm rãi:

    “Người đàn ông kia, kẻ đang ngồi trên ghế bị cáo, không chỉ muốn chiếm đoạt tài sản, lấy mạng tôi.

    Hắn còn dùng bạo lực và dối trá, hủy hoại đứa con gái duy nhất của tôi, khiến nó sống trong sợ hãi và tuyệt vọng.”

    “Thậm chí, hắn còn định lợi dụng sự tin tưởng thuần khiết nhất của một đứa trẻ sáu tuổi để thực hiện kế hoạch bẩn thỉu, độc ác của mình.”

    “Thứ hắn hủy hoại, không chỉ là một con người, cũng không phải chỉ là một khoản tiền. Hắn hủy hoại cả một gia đình, là hạnh phúc và hy vọng của ba thế hệ!”

    Lời trình bày của tôi, logic chặt chẽ, cảm xúc chân thành, như một lưỡi kiếm tuốt khỏi vỏ, triệt để nghiền nát mọi lời dối trá mà Trương Vĩ và luật sư của hắn dệt nên.

    Phiên tòa kết thúc, tôi bước xuống bục nhân chứng.

    Tôi nhìn thấy Trương Vĩ ngồi sụp trên ghế, mặt xám như tro.

    Hắn biết, hắn thua hoàn toàn rồi.

    Kết quả phán quyết cuối cùng, không có bất kỳ bất ngờ nào.

    Tòa án tuyên án, Trương Vĩ phạm các tội: chuẩn bị giết người, gian lận bảo hiểm, giam giữ trái phép, bạo lực gia đình nghiêm trọng… bị kết án hai mươi lăm năm tù giam, không được hưởng án treo.

    Toàn bộ tài sản cá nhân của hắn, bao gồm căn nhà từng giam giữ tôi và chiếc xe từng truy đuổi tôi, đều bị tòa án cưỡng chế phát mại để trả các khoản nợ vay nặng lãi và nợ ngân hàng.

    Tất cả những gì hắn từng dựa vào để lật ngược tình thế, cuối cùng đều tan thành mây khói.

    Phán quyết ly hôn cũng nhanh chóng được ban hành, quyền nuôi dưỡng hoàn toàn An An được giao cho Phương Tĩnh.

    Con quỷ đó, sẽ bị xóa sạch khỏi cuộc đời chúng tôi.

    Trong lúc khó khăn nhất, đại sứ quán và hội người Hoa đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều.

    Họ không chỉ hỗ trợ pháp lý cho Phương Tĩnh, mà còn liên hệ chuyên gia tâm lý để giúp hai mẹ con chữa lành những tổn thương.

    Bạn bè trong nước cũng nhanh chóng hoàn tất thủ tục bán nhà.

    Ngày tiền nhà được chuyển về, tôi không hề lưu luyến.

    Căn nhà tôi đã sống hơn nửa đời, đã hoàn thành sứ mệnh cuối cùng của nó.

    Tôi dùng số tiền đó, mua một căn hộ nhỏ tại thành phố nơi Phương Tĩnh đang sống — khu dân cư an ninh tốt, trường học chất lượng.

    Căn hộ không lớn, nhưng tràn ngập ánh nắng.

    Ba chúng tôi cùng nhau tự tay sắp xếp lại tổ ấm mới.

    Chúng tôi vứt bỏ toàn bộ đồ đạc Trương Vĩ để lại, thay bằng nội thất và rèm cửa hoàn toàn mới.

    Khi ánh nắng rực rỡ xuyên qua ô cửa kính sạch sẽ, tràn vào căn nhà nhỏ đầy tiếng cười của chúng tôi, tôi biết — cuối cùng chúng tôi đã có một mái ấm thực sự.

    Một mái ấm an toàn, ấm áp, thuộc về riêng chúng tôi.

    Dưới sự động viên của tôi, Phương Tĩnh bắt đầu nộp hồ sơ xin việc.

    Dù phải bắt đầu lại từ vị trí thấp vì rời xa công việc quá lâu, nhưng trên gương mặt con bé đã trở lại nụ cười tự tin.

    Con bé không còn là con chim sợ hãi co rúm trong góc nữa.

    Con bé học lái xe, học xử lý hóa đơn, học cách chống đỡ cả một gia đình.

    Con bé có thể lái xe đưa chúng tôi đi mua sắm xa hàng chục cây số, cũng có thể tự tin nói tiếng Anh lưu loát với giáo viên trong buổi họp phụ huynh.

    Đứa con gái từng khiến tôi tự hào, đã trở lại — thậm chí còn rực rỡ hơn trước.

    Còn tôi, cũng đăng ký lớp tiếng Anh miễn phí của trường cộng đồng, bắt đầu học từ “ABC”.

    Bạn học của tôi đến từ khắp nơi trên thế giới.

    Chúng tôi dùng thứ tiếng Anh lơ lớ, kèm theo cả cử chỉ tay chân, chia sẻ về văn hóa và ẩm thực, mỗi ngày đều tràn đầy niềm vui mới mẻ.

    Tôi còn trở thành “Story Grandma” (bà kể chuyện) nổi tiếng nho nhỏ ở trường của An An.

    Chiều thứ Sáu hàng tuần, tôi đều đến lớp của con bé, dùng tiếng Anh mang âm điệu Trung Quốc của mình, kể cho những đứa trẻ tóc vàng mắt xanh nghe chuyện Tôn Ngộ Không đại náo thiên cung trong Tây Du Ký.

    Bọn trẻ nghe say mê, vây quanh tôi hỏi không ngớt.

    Cuộc sống, trong nhịp điệu chậm rãi mà vững vàng, đã nở ra những đóa hoa mới.

    Một ngày nọ, chúng tôi nhận được một phong thư lạ, địa chỉ gửi đến là một nhà tù bang.

    Là thư của Trương Vĩ.

    Phương Tĩnh cầm lá thư, thậm chí không buồn nhìn.

    Con bé đi ra phòng khách, nhét thẳng lá thư vào máy hủy giấy mới mua.

    “Xoẹt——”

    Lá thư, cùng với những lời hối hận muộn màng và rẻ rúng bên trong, lập tức biến thành những mảnh vụn vô nghĩa.

    Phương Tĩnh nhìn tôi, ánh mắt bình thản mà kiên định.

    “Mẹ, chúng ta không nhìn về quá khứ, chỉ nhìn về phía trước.”

    Tôi mỉm cười gật đầu.

    Một buổi chiều cuối tuần, ba chúng tôi cùng lái xe ra biển.

    Trên bãi cát vàng, An An như chú chim nhỏ vui vẻ, chạy theo gió biển, tiếng cười trong trẻo vang khắp bờ.

    Tôi và Phương Tĩnh đi phía sau.

    Con bé bỗng nắm lấy tay tôi, khẽ nói:
    “Mẹ, cảm ơn mẹ. Chính mẹ đã cứu tất cả chúng con.”

    Tôi lắc đầu, nhìn về phía chân trời nơi biển và trời giao nhau, ánh hoàng hôn nhuộm cả bầu trời thành sắc cam ấm áp.

    “Không phải mẹ.”

    Tôi quay sang nhìn con gái.

    “Là tình yêu đã cứu chúng ta.”

    Là tình mẫu tử của con bé, trong tuyệt cảnh vẫn nghĩ cách cứu tôi.

    Là tình yêu thuần khiết của An An, một đứa trẻ sáu tuổi, sẵn sàng làm tổn thương chính mình để bảo vệ gia đình.

    Là tình yêu bản năng của tôi — một người mẹ, một người bà — không bao giờ từ bỏ.

    Dưới ánh hoàng hôn, bóng của chúng tôi kéo dài, thật dài.

    Cơn ác mộng kéo dài bảy mươi hai giờ ấy, đã sớm tan theo gió.

    Trước mắt chúng tôi, là mặt biển rộng lớn rực sáng trong ánh chiều tà, tràn đầy hy vọng và ánh sáng.

    Tôi biết, đây mới chính là “hưởng phúc” thật sự.

    Không phải thứ người khác ban cho, mà là thứ chúng tôi tự tay tạo dựng từ gai góc và bùn lầy — một hạnh phúc có tôn nghiêm, có an toàn.

    HẾT

  • Mẹ chồng phát hiện tôi lương 86 triệu/tháng liền họp cả nhà ép đưa 71 triệu mỗi tháng…

    Mẹ chồng phát hiện tôi lương 86 triệu/tháng liền họp cả nhà ép đưa 71 triệu mỗi tháng…

    Mẹ chồng phát hiện tôi lương 86 triệu/tháng liền họp cả nhà ép đưa 71 triệu mỗi tháng…chồng thì bảo “Em cứ đưa mẹ giữa đi, sau này cần gì bảo mẹ đưa là được về làm dâu rồi nên biết đâu”…Tôi chỉ nói một câu khiến bà phải tr//ả giá và người chồng hối h//ận!
    Ngay khi biết tôi nhận mức lương 86 triệu đồng mỗi tháng, mẹ chồng lập tức gọi cả nhà về mở một cuộc họp.
    Bà ngồi ở đầu bàn ăn, trước mặt là cuốn sổ cũ đã chuẩn bị sẵn.
    Giọng bà lạnh lùng:
    “Vợ thằng cả, từ tháng này trở đi, mỗi tháng nộp cho mẹ 71 triệu đồng. Đây là quy củ trong gia đình.”
    Tôi quay sang nhìn chồng.
    M.T vẫn ngồi đó, cúi đầu nhìn điện thoại.
    Nhưng ánh mắt anh nhanh chóng liếc sang tôi.
    Một ánh mắt quen thuộc.
    Đừng làm lớn chuyện.
    Tôi nhìn từng người trong căn nhà này.
    Mẹ chồng L.T.C.
    Bố chồng M.Đ.H.
    Em chồng M.K.
    Và người đàn ông tôi đã kết hôn ba năm — M.T.
    Tất cả đều đang chờ câu trả lời của tôi.
    Tôi chỉ bình thản nói:
    “Con không nộp.”
    Hai chữ vừa dứt.
    Cả phòng ăn im phăng phắc.
    Chiếc đũa trong tay M.K dừng giữa không trung.
    Bố chồng ngẩng đầu nhìn tôi.
    Còn mẹ chồng chỉ khẽ cười.
    Không phải nụ cười tức giận.
    Mà là nụ cười của người nghĩ rằng mình vẫn đang nắm quyền kiểm soát.
    “Được.”
    “Con cứ suy nghĩ thêm.”
    Tôi biết.
    Bà không bỏ cuộc.
    Sáng hôm sau.
    Tôi thức dậy như bình thường.
    Nhưng khi mở vòi nước trong phòng tắm…
    Không có một giọt nào chảy ra.
    Tôi thử bật công tắc điện.
    Căn phòng tối om.
    Toàn bộ điện nước trong nhà đã bị cắt.
    Tôi đứng yên vài giây.
    Sau đó điện thoại vang lên.
    Là M.T.
    Vừa bắt máy, giọng anh đã đầy mệt mỏi:
    “Em xin lỗi mẹ một câu đi.”
    “Tại sao?”
    “Mẹ giận nên mới cho người khóa điện nước. Em chỉ cần nhún nhường một chút thôi.”
    Tôi bật cười nhẹ.
    “Anh nghĩ đây là chuyện em sai sao?”
    Đầu dây bên kia im lặng.
    Một lúc sau anh nói:
    “L.T.C là mẹ anh.”
    “Bà cũng chỉ muốn tốt cho gia đình.”
    Tôi nhìn căn nhà tối đen trước mặt.
    Ba năm làm vợ.
    Tôi đã nghe câu này quá nhiều lần.
    Mẹ anh mắng tôi.
    Anh bảo tôi nhịn.
    Em gái anh tiêu tiền của tôi.
    Anh bảo tôi thông cảm.
    Bố anh say rượu lớn tiếng.
    Anh bảo tôi đừng chấp.
    Lúc nào cũng là tôi phải hiểu.
    Tôi phải nhường.
    Tôi phải hy sinh.
    Nhưng chưa từng có ai hỏi tôi có mệt không.
    Tôi không trả lời.
    Chỉ cúp máy.
    Sau đó tôi kéo vali ra khỏi nhà.
    Đặt một phòng khách sạn.
    Tôi ở đó tám ngày.
    Tám ngày không gọi điện.
    Không xin lỗi.
    Không quay về.
    Ngày thứ chín.
    M.T vẫn nghĩ tôi sẽ chịu thua.
    Anh nghĩ tôi sẽ quay về, cúi đầu trước mẹ anh rồi tiếp tục cuộc sống như trước.
    Nhưng thứ anh nhận được không phải là tin nhắn làm hòa.
    Mà là một phong bì từ tòa án.
    Khi mở ra đọc nội dung bên trong.
    Mặt anh biến sắc.
    Còn mẹ chồng tôi…
    Bà đang ngồi trên ghế sofa cũng lập tức đứng bật dậy.
    Nhưng chỉ vài giây sau.
    Hai chân bà mềm nhũn.
    Bà ngồi phịch xuống nền nhà.
    Gương mặt trắng bệch.
    Bởi vì bà hiểu.
    Lần này…
    Người bị đưa ra trước pháp luật không phải là tôi.
    Tôi biết mẹ chồng mình — L.T.C — có một thói quen rất khó chịu.
    Bà thích kiểm tra đồ đạc của người khác.
    Nhưng tôi chưa từng nghĩ bà có thể mở khóa ngăn kéo bàn làm việc của tôi chỉ để tìm bảng lương.
    Hôm đó, khi tôi tan làm về nhà.
    Phòng khách sáng đèn.
    Trên bàn ăn đã bày đủ sáu bộ bát đũa.
    L.T.C ngồi ở vị trí chính giữa.
    Bên cạnh bà là một tờ giấy.
    Tôi chỉ liếc qua cũng nhận ra.
    Đó là bảng lương tháng trước của tôi.
    Thu nhập sau thuế: 86.000.000 đồng.
    Bên cạnh bà là M.K đang nhìn chằm chằm vào chiếc túi hàng hiệu tôi vừa mua.
    Bố chồng tôi ngồi trên ghế sofa hút thuốc.
    Còn M.T thì cúi đầu bấm điện thoại như thể chuyện này không liên quan đến anh.
    Tôi bình tĩnh thay giày.
    L.T.C lên tiếng:
    “Thanh N, lại đây ngồi.”
    Bình thường bà chưa bao giờ gọi tên tôi.
    Trong mắt bà.
    Tôi chỉ là:
    “Vợ thằng cả.”
    Nhưng hôm nay bà gọi đầy đủ tên tôi.
    Tôi biết.
    Bà đã chuẩn bị sẵn.
    Tôi đặt túi lên tủ.
    “Có chuyện gì mẹ cứ nói.”
    Bà đẩy tờ giấy về phía tôi.
    Con số 86 triệu hiện rõ.
    “Lương cũng khá đấy.”
    M.K lập tức cười:
    “Chị dâu giấu kỹ thật.”
    “Ai ngờ mỗi tháng kiếm nhiều như vậy.”
    Tôi quay sang nhìn M.T.
    Đến lúc này anh mới ngẩng đầu.
    Nhưng ánh mắt anh không phải bất ngờ.
    Mà là trách móc.
    Như thể lỗi của tôi là để mẹ anh biết được thu nhập của mình.
    L.T.C gõ nhẹ ngón tay xuống bàn.
    “Đã biết rồi thì nói thẳng luôn.”
    Bà lấy ra một cuốn sổ.
    Bìa ngoài ghi rất lớn:
    CHI TIÊU GIA ĐÌNH
    “Từ tháng sau, con đưa mẹ 71 triệu.”
    “Tất cả tiền trả góp nhà, tiền đối nội đối ngoại, tiền cho em M.K học cao học, sau này còn tiền dưỡng già của bố mẹ…”
    “Gia đình cần người chung tay.”
    Tôi nhìn bà.
    “Tại sao lại là 71 triệu?”
    Bà trả lời không chút do dự:
    “Con gái giữ nhiều tiền làm gì?”
    “Chồng con là người nhà.”
    “Nhà của chồng cũng là nhà của con.”
    “Tiền trong nhà phải để người lớn quản lý mới đúng.”
    M.K lập tức phụ họa:
    “Đúng rồi chị dâu.”
    “Chị làm dâu ba năm rồi mà cứ chia tiền bạc rõ ràng như người ngoài.”
    Bố chồng tôi gật đầu:
    “Mẹ con nói đúng.”
    “Phụ nữ trong nhà phải biết vun vén.”
    Tôi không nói gì.
    Chỉ nhìn sang M.T.
    Anh đặt điện thoại xuống.
    Và lại dùng ánh mắt đó.
    Đừng gây chuyện.
    Tôi nhớ ánh mắt ấy.
    Nó xuất hiện khi mẹ anh trách tôi chưa sinh con.
    Khi em gái anh dùng thẻ tín dụng của tôi rồi không trả.
    Khi bố anh mắng tôi rằng làm vợ thì phải biết hy sinh.
    Lần nào cũng vậy.
    Anh chỉ nhìn tôi.
    Bảo tôi nhịn.
    Nhưng chưa bao giờ đứng về phía tôi.
    Tôi từng nghĩ.
    Hôn nhân là chuyện của hai người.
    Nhưng hôm nay tôi mới hiểu.
    Trong cuộc hôn nhân này…
    Hai người đó chưa từng bao gồm tôi.
    Thấy tôi im lặng.
    L.T.C tưởng tôi đã đồng ý.
    Bà đẩy cuốn sổ lại gần.
    “Từ ngày mai đưa luôn thẻ lương cho mẹ.”
    “Ghi cả mật khẩu.”
    “Tôi sẽ quản lý giúp.”
    “Tôi không để con thiệt đâu.”
    Tôi bật cười.
    Nhìn thẳng vào bà.
    “Lúc mẹ tự ý cạy ngăn kéo phòng làm việc của con…”
    “Mẹ cũng nghĩ như vậy sao?”
    Cả bàn ăn lập tức im lặng.
    Sắc mặt L.T.C thay đổi.
    “Tôi là mẹ chồng cô.”
    “Tôi xem một chút thì có sao?”
    Tôi bình tĩnh đáp:
    “Mẹ ruột con cũng chưa từng tự ý mở đồ của con.”
    M.K lập tức đập tay xuống bàn.
    “Chị dâu!”
    “Chị nói chuyện với mẹ kiểu gì vậy?”
    Tôi nhìn cô ta.
    Rồi nhìn sang M.T.
    Và lần đầu tiên trong ba năm…
    Tôi không còn muốn giải thích nữa.
    Bởi vì tôi đã hiểu.
    Có những gia đình…
    Chỉ khi mất đi người luôn nhẫn nhịn…
    Họ mới biết mình đã đánh mất điều gì.

  • Chồng sắp cưới bắ.t tôi bán căn nhà 12 tỷ bố mẹ tôi để lại, mua biệt thự đứng tên mẹ anh… Tôi chỉ gửi một tin nhắn trong lễ đính hôn khiến cả nhà trai hoảng loạn chạy đến xi…n lỗi.

    Chồng sắp cưới bắ.t tôi bán căn nhà 12 tỷ bố mẹ tôi để lại, mua biệt thự đứng tên mẹ anh… Tôi chỉ gửi một tin nhắn trong lễ đính hôn khiến cả nhà trai hoảng loạn chạy đến xi…n lỗi.

    Chồng sắp cưới bắ.t tôi bán căn nhà 12 tỷ bố mẹ tôi để lại, mua biệt thự đứng tên mẹ anh… Tôi chỉ gửi một tin nhắn trong lễ đính hôn khiến cả nhà trai hoảng loạn chạy đến xi…n lỗi.

    “Căn nhà trong ngõ Thanh Hà của em ít nhất cũng bán được khoảng 12 tỷ đồng. Bán đi rồi chúng ta mua một căn biệt thự ở khu cao cấp. Nhưng sổ đỏ phải đứng tên mẹ anh.”

    Giữa sảnh tiệc tầng ba của khách sạn , giọng nói của T.D vang lên rõ ràng khiến những người ngồi gần đó cũng phải quay lại nhìn.

    Trên sân khấu, màn hình lớn vẫn đang chiếu ảnh lễ đính hôn của tôi và anh.

    Trong bức ảnh ấy, tôi mặc chiếc váy trắng, nở nụ cười hạnh phúc bên người đàn ông mà tôi từng nghĩ sẽ cùng mình đi hết cuộc đời.

    Nhưng ngay lúc này, dưới ánh đèn vàng sang trọng của khách sạn, người đứng bên cạnh tôi lại trở nên xa lạ vô cùng.

    Tôi siết chặt chiếc hộp nhẫn trong tay.

    “Anh vừa nói gì?”

    T.D hơi cau mày, như thể việc tôi hỏi lại khiến anh mất kiên nhẫn.

    “Anh nói căn nhà đó em được bà ngoại để lại thì nên bán đi. Giữ một căn nhà cũ trong ngõ làm gì? Chúng ta còn trẻ, phải nghĩ đến tương lai.”

    Anh dừng một chút rồi nói tiếp:

    “Mẹ anh đã xem một căn biệt thự cao cấp rồi. Vị trí đẹp, gần bệnh viện, sau này tiện chăm sóc bà. Nhưng vì thủ tục vay vốn hơi phức tạp nên để mẹ anh đứng tên trước.”

    Tôi nhìn về phía bàn chính.

    Mẹ anh, bà T.L, đang ngồi đó với vẻ mặt bình thản.

    Bà nhẹ nhàng đặt tách trà xuống, mỉm cười:

    “V.N à, cháu đừng suy nghĩ nhiều. Nhà đứng tên bác chỉ là để thuận tiện giấy tờ thôi. Sau này bác cũng để lại cho hai đứa. Người trong gia đình với nhau, đứng tên ai chẳng được?”

    Tôi im lặng nhìn bà.

    Chiếc áo dài đỏ thẫm bà đang mặc hôm nay là bộ tôi từng đưa bà đi chọn để chuẩn bị cho lễ đính hôn.

    Chiếc vòng ngọc trên tay bà cũng chính là món quà tôi mua tặng sau chuyến công tác ở ĐN năm ngoái.

    Khi ấy, bà từng nắm tay tôi và nói:

    “Bác coi cháu như con gái trong nhà.”

    Tôi đã từng tin câu nói đó.

    Nhưng hôm nay, trước mặt hơn một trăm khách mời, bà lại muốn tôi bán căn nhà duy nhất bà ngoại để lại cho mình, lấy toàn bộ tiền mua một căn biệt thự mang tên bà.

    Tôi quay sang nhìn T.D.

    “Chuyện này chúng ta chưa từng bàn bạc.”

    Anh hạ giọng:

    “Anh đã nói với em nhiều lần rồi. Nhưng em cứ né tránh. Hôm nay anh mới quyết định luôn.”

    Tôi khựng lại.

    “Quyết định luôn?”

    “Ừ. Tiền đặt cọc biệt thự mẹ anh đã đóng rồi.”

    Tôi cảm thấy lạn/h sống lưng.

    “Bao nhiêu tiền?”

    T.D đáp:

    “Khoảng một tỷ hai.”

    Tôi nhìn thẳng vào anh.

    “Tiền ở đâu ra?”

    Anh im lặng vài giây.

    Đúng lúc đó, em gái anh là M.M ngồi phía dưới lên tiếng:

    “Chị hỏi như đang kiểm toán vậy. Anh trai em chỉ tạm ứng tiền từ công ty thôi. Sau này chị bán nhà thì trả lại là được.”

    Tôi nhìn từng người trong gia đình họ.

    Bố mẹ anh.

    Em gái anh.

    Người đàn ông từng nói yêu tôi suốt ba năm.

    Không ai thấy chuyện này có gì bất thường.

    Không ai hỏi tôi có đồng ý hay không.

    Họ chỉ đang chờ tôi giao căn nhà bà ngoại để lại như một điều hiển nhiên.

    Tôi cúi xuống nhìn chiếc nhẫn đính hôn trên tay.

    Ba năm trước, khi bà ngoại mất, bà chỉ để lại cho tôi căn nhà nhỏ trong con ngõ cũ và một câu nói:

    “Nhà có thể nhỏ, nhưng đó là nơi con luôn có thể quay về.”

    Tôi từng nghĩ sau này mình sẽ cùng T.D sửa sang căn nhà ấy, biến nó thành tổ ấm của hai người.

    Tôi chưa từng nghĩ có một ngày, người tôi sắp cưới lại muốn lấy nó khỏi tay tôi.

    Nhưng tôi không khóc.

    Cũng không nổi giận.

    Tôi chỉ nhẹ nhàng lấy điện thoại ra.

    Một tin nhắn được gửi đi.

    Chỉ vài giây sau, sắc mặt của T.D thay đổi hoàn toàn.

    Anh nhìn màn hình điện thoại, rồi đứng bật dậy.

    “Mẹ… chuyện này là sao?”

    Cả bàn tiệc lập tức im bặt.

    Bà T.L cũng nhìn vào điện thoại của con trai.

    Và lần đầu tiên trong buổi lễ hôm đó, vẻ bình tĩnh trên gương mặt bà biến mấ//t.

    Bởi vì người tôi vừa nhắn tin mời đến…

    Chính là người có thể khiến toàn bộ kế hoạch của gia đình họ sụp đổ.

    Sự im lặng bao trùm lấy bàn tiệc chính. Bà T.L run rẩy đánh rơi cả chiếc tách trà bằng sứ, nước trà đổ lênh láng ra khăn bàn trắng tinh. M.M hốt hoảng ghé mắt nhìn vào màn hình điện thoại của anh trai, rồi mặt cắt không còn một giọt máu.

    Tin nhắn tôi gửi đi không chỉ là một dòng chữ, mà là ảnh chụp màn hình thông báo từ Phòng Thanh tra Tài chính thuộc Bộ Giao thông Vận tải – nơi bố T.D đang làm việc – cùng dòng tin nhắn xác nhận:

    “Hồ sơ tố giác hành vi tham ô, tẩu tán tài sản và vi phạm quy định đấu thầu của ông T.V.H (bố T.D) kèm bằng chứng chuyển tiền trái phép 1,2 tỷ từ công ty của T.D đã được gửi trực tiếp đến Trưởng ban Thanh tra. Bác sĩ và Công an đang trên đường tới khách sạn.”

    Thì ra, 1,2 tỷ đồng mà T.D “tạm ứng” từ công ty để đặt cọc biệt thự thực chất là tiền thụt két trái phép, và dự án biệt thự đó lại thuộc một công ty “ma” do chính mẹ anh đứng tên tẩu tán tài sản tham nhũng của bố anh. Bố T.D lâu nay vẫn mang danh nghĩa là cán bộ liêm chính, gia đình họ cần căn nhà 12 tỷ của tôi để “rửa” sạch khoản tiền tẩu tán này, biến nó thành tài sản hợp pháp dưới danh nghĩa mua nhà cho con.

    Tôi biết điều này vì một tuần trước, khi vô tình dùng laptop của T.D để gửi file công việc, tôi đã phát hiện ra tệp tài liệu kế toán toán bẩn và hàng loạt hợp đồng khống mà anh ta chưa kịp xóa. Mười hai tỷ của tôi không chỉ là mồ hôi nước mắt của bà ngoại, mà suýt chút nữa đã trở thành công cụ để gia đình họ lấp liếm sai phạm pháp luật.

    “V.N… Em… em làm cái gì thế này?!” T.D lao đến, hai tay bấu chặt lấy vai tôi, giọng lạc đi vì kinh hoàng. “Em muốn hại chết cả nhà anh sao?”

    Tôi lạnh lùng hất tay anh ta ra, bình tĩnh tháo chiếc nhẫn đính hôn trên tay đặt lên bàn tiệc:

    “Tôi không hại ai cả. Bố anh tham nhũng, anh thụt két công ty, mẹ anh đứng tên rửa tiền. Gia đình các người tự tay đào hố chôn mình, lại còn muốn cướp sạch căn nhà bà ngoại để lại cho tôi để lấp hố sao?”

    Bà T.L lúc này không còn giữ nổi vẻ đạo mạo. Bà lao xông tới, quỳ sụp xuống trước mặt tôi, vừa khóc vừa níu lấy vạt áo tôi van xin thảm thiết:

    “Cháu ơi! V.N ơi! Bác sai rồi, gia đình bác sai rồi! Bác rút lại ý định mua biệt thự, không bắt cháu bán nhà nữa! Cháu thu hồi lại đơn tố cáo đi, bố T.D mà bị bắt thì gia đình bác mất hết, T.D cũng sẽ đi tù mất cháu ơi!”

    M.M – cô em gái vừa phút trước còn mỉa mai tôi như kế toán – giờ đây đứng chết lặng, nước mắt ngắn dài chắp tay vái lạy tôi: “Chị ơi em xin chị, chị cứu gia đình em lần này thôi…”

    Quan khách xung quanh bắt đầu xì xào, những tiếng xầm xì bàn tán và vô số ống kính điện thoại chĩa về phía bàn tiệc. Bố của T.D ngồi phệt xuống ghế, gương mặt xám xịt như chết trôi.

    Tôi nhìn họ – những kẻ mới vừa phút trước còn coi tôi là con mồi ngây thơ để xâu xé, giờ đây lại đớn hèn quỳ lạy dưới chân tôi.

    “Đã quá muộn rồi.” Tôi thản nhiên nói, giọng vang rõ khắp sảnh tiệc. “Pháp luật không phải là thứ để các người ngã giá, và tình cảm của tôi cũng không phải là thứ để các người lợi dụng.”

    Đúng lúc đó, tiếng còi xe chuyên dụng của lực lượng chức năng vang lên giòn giã ngoài cổng khách sạn. Một tốp cán bộ điều tra cùng công an bước vào sảnh tiệc, tiến thẳng về phía gia đình T.D trước sự bàng hoàng của toàn bộ khách mời.

    Tôi cầm lấy chiếc túi xách, nhẹ nhàng bước qua những kẻ đang hoảng loạn khóc lóc.

    Bước ra khỏi khách sạn, không khí mát rượi của buổi chiều thu ùa vào lồng ngực. Căn nhà nhỏ trong ngõ Thanh Hà vẫn đang chờ tôi trở về – nơi an yên duy nhất mà không một kẻ tham lam nào có thể chạm đến.

  • Ngay trước mặt mẹ chồng, chồng cũ ném chiếc ba lô cũ kỹ vào tôi ngay khi vừa rời tòa l//y hôn. Nhưng đêm đó, lúc mở chiếc ba lô ra, tôi đã bật khóc khi thấy những gì giấu bên trong…

    Ngay trước mặt mẹ chồng, chồng cũ ném chiếc ba lô cũ kỹ vào tôi ngay khi vừa rời tòa l//y hôn. Nhưng đêm đó, lúc mở chiếc ba lô ra, tôi đã bật khóc khi thấy những gì giấu bên trong…

    Ngay trước mặt mẹ chồng, chồng cũ ném chiếc ba lô cũ kỹ vào tôi ngay khi vừa rời tòa l//y hôn. Nhưng đêm đó, lúc mở chiếc ba lô ra, tôi đã bật khóc khi thấy những gì giấu bên trong…

    Tiếng búa của thẩm phán vang lên trong phòng x//ử á/n tôi và chồng đã chính thức “đường ai nấy đi” tôi giành được quyền nuôi con.

    Mọi thứ dường như đã đóng băng.

    Tôi bước ra khỏi cổng tòa án dưới cái nắng gay gắt của buổi trưa.

    Trên tay là bản quyết định l//y hôn vừa được trao.

    Trên vai tôi, cậu con trai gần hai tuổi đang ngủ ngon là//nh.

    Tôi ôm con thật chặt.

    Bởi vì từ hôm nay…

    Hai mẹ con tôi chỉ còn có nhau.

    Phía sau, mẹ chồng cũ của tôi — bà Nguyễn Thị Hạnh — cũng bước ra.

    Bà nhìn tôi bằng ánh mắt lạ/nh lùng.

    Khóe môi còn nở một nụ cười như thể cuối cùng cũng trút bỏ được một gánh nặng suốt nhiều năm.

    Tôi và Minh Khôi từng yêu nhau ba năm trước khi kết hôn.

    Anh là trưởng phòng kinh doanh của một công ty vận tải lớn ở Hà Nội.

    Anh từng là người đàn ông trong mắt mọi người: thành đạt, lịch thiệp, có tương lai.

    Còn tôi chỉ là một nhân viên văn phòng bình thường, lớn lên trong một gia đình lao động ở ngoại thành.

    Ngày cưới, ai cũng nói tôi may mắn.

    Họ bảo tôi đã đổi đời.

    Nhưng không ai biết…

    Cuộc hôn nhân ấy lại trở thành chiếc lồng son khiến tôi dần mất đi chính mình.

    Mọi chuyện thay đổi từ khi Gia Bảo chào đời.

    Con sinh no/n.

    Cơ thể yế/u ớt.

    Những tháng đầu tiên, tôi gần như sống trong bệnh viện.

    Minh Khôi từng nắm tay tôi và nói:

    “Em nghỉ việc đi. Anh sẽ lo cho hai mẹ con.”

    Tôi đã tin anh.

    Tôi nghĩ mình có một người chồng sẵn sàng che chở.

    Nhưng đó lại là sai lầm lớn nhất trong cuộc đời tôi.

    Sau khi nghỉ việc, tôi ở nhà chăm con và sống cùng bố mẹ chồng.

    Từ lúc đó…

    Tôi dần trở thành người bị xem là ăn bám.

    Mẹ chồng tôi kiểm soát từng khoản tiền trong nhà.

    Mỗi lần Minh Khôi đưa tiền sinh hoạt, bà đều hỏi:

    “Tháng này sao tiêu nhiều vậy? Một ngày hết gần 300 nghìn đồng à? Hay cô lại mang tiền về cho nhà ngoại?”

    Tôi chỉ biết im lặng.

    Bởi vì tôi hiểu…

    Trong căn nhà đó, tiếng nói của tôi chưa bao giờ có trọng lượng.

    Nhưng điều khiến tôi đau nhất…

    Là Minh Khôi.

    Anh luôn đứng ngoài.

    Anh nghe mẹ trách móc tôi.

    Nghe mẹ xúc phạm tôi.

    Nhưng chưa một lần lên tiếng bảo vệ vợ.

    Lương của anh mỗi tháng đều đưa cho mẹ giữ.

    Còn tôi chỉ nhận được vài triệu đồng ít ỏi để mua sữa, bỉm và lo những khoản cần thiết cho con.

    Tôi nhìn người đàn ông từng hứa:

    “Anh sẽ bảo vệ em cả đời.”

    Nhưng giờ đây…

    Anh chỉ cúi đầu im lặng.

    Đỉnh điểm xảy ra vào hai tuần trước ngày ly hôn.

    Mẹ chồng tôi bất ngờ tố tôi lấy trộ//m 5 triệu đồng trong tủ.

    Bà đứng giữa nhà, lớn tiếng mắng nhiếc.

    Từng câu từng chữ như da//o cứ//a vào lòng tôi.

    Bà còn nói:

    “Con trai tôi nên lấy một người vợ khác. Ít nhất cũng phải là người có gia đình tử tế hơn.”

    Tôi quay sang nhìn Minh Khôi.

    Tôi vẫn hy vọng.

    Chỉ cần anh nói một câu thôi.

    Chỉ cần anh tin tôi.

    Nhưng anh chỉ thở dài.

    “Em xin lỗi mẹ đi. Cho mọi chuyện kết thúc.”

    Ngay khoảnh khắc ấy…

    Thứ gì đó trong lòng tôi hoàn toàn vỡ vụn.

    Tôi bế Gia Bảo lên.

    Thu dọn vài bộ quần áo.

    Rời khỏi căn nhà mà tôi từng nghĩ sẽ là nơi mình sống cả đời.

    Ba ngày sau…

    Giấy l//y hôn được gửi đến.

    Tôi không do dự.

    Tôi ký ngay.

    Tôi không cần tiền.

    Không cần tài sản.

    Điều duy nhất tôi muốn…

    Là được ở bên con trai mình.

    Và hôm nay…

    Mọi thứ đã kết thúc.

    Tôi vừa định gọi xe về nhà bố mẹ thì Minh Khôi bất ngờ bước tới.

    Gương mặt anh lạnh lùng.

    Không còn chút tình cảm nào.

    Trên tay anh là một chiếc ba lô cũ đã bạc màu.

    Chiếc ba lô ấy…

    Là món quà anh từng tặng tôi vào ngày chúng tôi còn yêu nhau.

    Anh nhìn tôi.

    Rồi bất ngờ ném mạnh nó vào người tôi.

    “Cầm lấy đi. Mang hết đồ của cô đi. Nhà tôi không còn chỗ chứa những thứ này.”

    Chiếc ba lô đập vào vai tôi.

    Bên cạnh anh, mẹ anh cười nhạt.

    “Đúng rồi. Mang hết những thứ thuộc về cô đi.”

    Tôi đứng chết lặng.

    Người đàn ông tôi từng yêu hơn cả bản thân mình…

    Cuối cùng lại có thể đối xử với tôi như vậy.

    Tôi muốn ném chiếc ba lô xuống đất.

    Muốn hỏi anh tại sao.

    Muốn khóc thật lớn.

    Nhưng Gia Bảo vẫn đang ngủ trên vai tôi.

    Tôi cắn môi.

    Nuốt ngược nước mắt.

    Cúi xuống nhặt chiếc ba lô lên.

    Ôm con thật chặt.

    Rồi lặng lẽ rời đi.

    Không một lần quay đầu.

    Về đến căn nhà nhỏ của bố mẹ ở ngoại thành Hà Nội, tôi ném chiếc ba lô vào góc phòng.

    Đêm hôm đó…

    Tôi ôm con trai trong lòng.

    Khóc đến khi không còn nước mắt.

    Tôi không biết ngày mai của hai mẹ con sẽ ra sao.

    Tôi không biết mình phải bắt đầu lại thế nào.

    Nhưng tôi biết…

    Tôi không thể quay về nơi đã từng khiến mình tổn thương.

    Chiều hôm sau, trong lúc dọn dẹp căn phòng, tôi nhìn thấy chiếc ba lô cũ kia.

    Tôi định đem nó bỏ đi.

    Dù sao…

    Nó cũng chỉ là thứ Minh Khôi vứt lại cho tôi.

    Nhưng khi nhấc lên…

    Tôi bất ngờ khựng lại.

    Chiếc ba lô…

    Nặng hơn rất nhiều so với hôm qua.

    Tôi cau mày.

    Một cảm giác kỳ lạ bất chợt xuất hiện.

    Tôi từ từ kéo khóa.

    … Tiếng khóa kéo kim loại sột soạt vang lên giữa căn phòng vắng.

    Bên trong không phải là vài bộ quần áo cũ hay những món đồ vô giá trị mà tôi tưởng.

    Nằm gọn gàng ở đáy ba lô là một chiếc hộp nhựa khóa kín, bên dưới phủ đầy những tệp tiền mệnh giá 500 nghìn đồng còn nguyên niêm phong của ngân hàng.

    Tôi sững sờ, tay run rẩy nhấc từng tệp tiền ra đếm. Tổng cộng là 1,5 tỷ đồng.

    Nhưng đó chưa phải là tất cả.

    Nằm ngay dưới cùng là một cuốn sổ tiết kiệm mang tên con trai tôi — bé Gia Bảo — cùng một tệp tài liệu dày và một bức thư tay do chính nét chữ quen thuộc của Minh Khôi viết:

    “Nhược An à,

    Khi em đọc những dòng này, có lẽ em đang rất giận và oán trách anh. Anh chấp nhận tất cả.

    Anh biết 3 năm qua em đã chịu vô vàn tủi hổ dưới sự cay nghiệt của mẹ anh. Nhưng anh quá nhu nhược, không đủ sức bảo vệ em trước sự áp đặt của bà. Mẹ kiểm sát toàn bộ tài chính, ép anh phải nộp hết lương. Anh đã cố gắng nhẫn nhịn để tích góp âm thầm suốt thời gian qua.

    Số tiền 1,5 tỷ này cùng cuốn sổ tiết kiệm 1 tỷ mang tên Gia Bảo là toàn bộ tiền anh lén làm thêm ngoài, đầu tư riêng và cả tiền thưởng nhiều năm tích lũy. Anh ném chiếc ba lô ấy trước mặt mẹ là kịch bản duy nhất để bà không nghi ngờ hay đòi chia chác tài sản ly hôn, để em có thể cầm số tiền này ra đi một cách hợp pháp và an toàn nhất.

    Còn tệp tài liệu đính kèm là hợp đồng mua một căn hộ nhỏ đứng tên em ở gần nhà ngoại. Anh đã thanh toán xong 100%.

    Anh xin lỗi vì đã không thể cho em một người chồng trọn vẹn, không thể cho con một gia đình hoàn hảo. Hãy dùng số tiền này để chữa bệnh cho Gia Bảo và mở một cửa hàng nhỏ như em từng mơ ước. Đừng tìm anh, cũng đừng thương hại anh.

    Chúc hai mẹ con một đời bình an.”

    Nước mắt tôi rơi xuống nhòe cả trang giấy. Từng giọt nước mắt nóng hổi thấm vào từng dòng chữ dứt ruột dứt gan của anh.

    Hóa ra, hành động ném chiếc ba lô lạnh lùng, tàn nhẫn trước cổng tòa án hôm ấy chỉ là lớp vỏ bọc cuối cùng của một người đàn ông bất lực. Anh chọn đóng vai kẻ phản diện, chịu sự khinh bỉ của cả thế giới, chấp nhận mang danh kẻ bạc tình chỉ để đổi lấy sự tự do và tương lai vững chắc nhất cho mẹ con tôi.

    Tôi ôm chầm lấy chiếc ba lô vào lòng, gục xuống khóc nức nở.

    Cơn đau xé lòng từ sự phản bội bỗng biến thành nỗi cay đắng chát chúa của một tình yêu tan vỡ vì hoàn cảnh. Mùa đông năm ấy ở Hà Nội thật lạnh, nhưng trong lòng tôi, vết thương tưởng như sẽ hoại tử suốt đời nay đã được sưởi ấm bằng một sự thật nghẹn ngào. Tôi sẽ đứng dậy, nuôi dạy Gia Bảo thật tốt, bởi tôi biết trên đời này, vẫn có một người đã hy sinh tất cả những gì anh có để bảo vệ hai mẹ con tôi theo cách lặng lẽ nhất.

  • Bán đất được 2 tỷ 990 triệu, tôi cho con trai cả 1,5 tỷ còn con út 1,49 tỷ.

    Bán đất được 2 tỷ 990 triệu, tôi cho con trai cả 1,5 tỷ còn con út 1,49 tỷ.

    Bán đất được 2 tỷ 990 triệu, tôi cho con trai cả 1,5 tỷ còn con út 1,49 tỷ. Chỉ chênh nhau 10 triệu mà con trai út khó chịu ra mặt, hôm sau đem tiền trả lại tôi hết.

    Tôi có hai con trai. Con cả tên Hưng, 43 tuổi, làm nhân viên hành chính ở một công ty nước ngoài, lương tháng ổn định, sống cùng vợ và hai đứa con trong thành phố. Con trai út tên Hải, 39 tuổi, là dân kỹ thuật, từng làm việc cho một công ty thiết kế, sau đó nghỉ ra mở xưởng sản xuất nội thất riêng. Công việc làm ăn của Hải không đều đặn, có lúc rất khá, có lúc bấp bênh nhưng nó có chí và tôi tin con mình.

    Về chuyện quan hệ tình cảm, Hưng là đứa chăm lo cho tôi nhiều hơn. Tuần nào cũng gọi điện, khi thì ghé qua mang ít trái cây, khi thì sửa cái bóng đèn, cái quạt. Hải thì ít lui tới, nói là bận việc. Có lần Tết còn về muộn, chỉ kịp chúc Tết rồi lại đi ngay. Nhưng lần nào về nó cũng biếu tôi quà ngon, nói chuyện vui vẻ, hỏi han đủ điều.

    Đến ngày nhận được tiền, tôi quyết định chia cho Hưng 1,5 tỷ, Hải 1,49 tỷ. Chỉ chênh nhau 10 triệu, nhưng tôi nghĩ mình làm đúng. Thứ nhất vì Hưng là con trưởng, sau này lo hương hỏa, nó nhận phần nhỉnh hơn là điều bình thường. Thứ hai, nó chăm sóc tôi thường xuyên hơn, tôi cũng muốn bù đắp cho sự quan tâm đó.

    Tôi tin Hải sẽ hiểu. Nó là đứa ít nói nhưng tình cảm. Tôi in hai tờ giấy xác nhận, ghi rõ số tiền, để chúng ký tên vào làm chứng. Hôm đó, tôi mời cả hai anh em về nhà. Cả 3 bố con ngồi uống trà, ăn bánh, tôi vừa nói chuyện, vừa đưa hai phong bì đựng sẵn tiền mặt.

    Không khí hôm đó rất vui vẻ. Hưng cười lớn, nói:

    – Bố chia vậy là đúng rồi, ai làm nhiều thì hưởng nhiều.

    Hải thì chỉ cười nhẹ, không nói gì. Nó ký tên, cầm phong bì rồi về luôn. Tôi có hơi chạnh lòng, nhưng nghĩ chắc nó bận.

    Nhưng sáng hôm sau, khi đang chuẩn bị ăn sáng thì Hải bất ngờ quay lại nhà, mặt mũi căng thẳng, ánh mắt đỏ hoe.

    Nó không nói không rằng, móc điện thoại ra chuyển khoản trả lại toàn bộ 1,49 tỷ đồng vào tài khoản tôi. Sau đó đặt điện thoại xuống bàn, nói từng từ:

    – Con không lấy một đồng nào hết. Bố giữ lại mà tiêu.

    Tôi hoảng hốt:

    – Con bị gì vậy? Chuyện này bố suy nghĩ kỹ rồi. Mỗi đứa gần như ngang nhau, có hơn nhau là bao đâu mà con làm quá vậy?

    Hải cười gằn, nước mắt trào ra:

    – Bố nghĩ con vì 10 triệu đồng mà trả lại hết sao? Không đâu… Con không cần tiền được chia kiểu này!

    Vừa lúc đó thì tôi nhận được cuộc điện thoại ch;ấ;n động…

    Vừa lúc đó thì tôi nhận được cuộc điện thoại chấn động.

    Là ngân hàng.

    Giọng cô nhân viên vang lên trong máy, lịch sự nhưng đầy ngạc nhiên:

    – Dạ thưa chú, tài khoản của chú vừa được tất toán khoản vay 1 tỷ 200 triệu. Người thanh toán là anh Hải, con trai chú.

    Tôi đứng chết lặng. Tay run đến mức suýt làm rơi điện thoại.

    – Khoản vay nào? – tôi hỏi lại.

    – Dạ, khoản vay thế chấp căn nhà chú đang ở, mở cách đây ba năm ạ.

    Tôi bủn rủn ngồi xuống ghế.

    Ba năm trước, khi tôi bị tai biến nhẹ, phải nhập viện dài ngày, tôi đã lén vay tiền để chữa bệnh và sửa lại căn nhà cũ nát. Tôi không nói cho hai con biết vì sợ chúng lo. Sau đó tiền lãi chồng lãi, tôi xoay xở mãi không nổi.

    Tôi cứ nghĩ mình giấu được.

    Hải nhìn tôi, giọng nghẹn lại:

    – Con biết chuyện đó từ lâu rồi. Ngày bố nằm viện, con tình cờ thấy giấy tờ trong tủ. Con hỏi ngân hàng, họ nói nếu không trả đúng hạn, nhà sẽ bị phát mãi. Con không nói vì sợ bố buồn.

    Tôi không thốt nên lời.

    – Ba năm nay xưởng làm ăn lúc lên lúc xuống, con cũng khổ. Nhưng con cố dành dụm, có bao nhiêu trả bấy nhiêu. Hôm qua nhận tiền bố chia, con chuyển thẳng trả hết nợ. Con không muốn sau này anh em con vì cái nhà này mà lục đục.

    Nó lau nước mắt, nói tiếp:

    – Còn 10 triệu chênh lệch… bố biết con buồn vì cái gì không? Không phải vì tiền. Con buồn vì bố nghĩ con tính toán. Bố sợ con thiệt nên mới chia gần bằng, nhưng lại ghi giấy tờ rạch ròi quá. Tình anh em mà phải ký tên xác nhận từng đồng… con thấy lạnh lắm.

    Tôi nhìn sang Hưng. Nó cúi gằm mặt, không còn vẻ hồ hởi hôm qua nữa.

    Hải quay sang anh trai:

    – Anh à, anh hay về thăm bố, em biết. Em ít về, em nhận. Nhưng không phải vì em không thương. Chỉ là cách của em khác anh thôi.

    Hưng bỗng đứng dậy, bước đến ôm em trai. Giọng nó run run:

    – Anh xin lỗi. Hôm qua anh nói câu đó là sai. Anh không biết em đã làm nhiều chuyện như vậy.

    Căn nhà nhỏ bỗng im phăng phắc, chỉ còn tiếng nấc nghẹn.

    Tôi chợt hiểu ra, mình đã sai từ đầu. Tôi nghĩ chia tiền là công bằng. Nhưng tôi quên mất, tình cảm không thể đo bằng con số. Càng rạch ròi, càng dễ làm tổn thương.

    Tôi chậm rãi nói:

    – Bố già rồi, nhiều khi suy nghĩ thiển cận. Hôm nay bố quyết định thế này. Số tiền còn lại, bố giữ một phần dưỡng già. Phần còn lại, bố lập sổ chung cho hai anh em. Sau này bố mất, căn nhà này bán hay giữ, hai đứa tự bàn với nhau. Không giấy tờ phân chia hơn kém gì nữa.

    Hải lắc đầu:

    – Bố cứ giữ hết đi. Tụi con tự lo được.

    Hưng cũng gật đầu.

    Lần đầu tiên sau nhiều năm, tôi thấy hai anh em ngồi cạnh nhau, nói chuyện nhỏ nhẹ, không còn khoảng cách.

    Chiều hôm đó, Hải ở lại ăn cơm. Nó tự tay sửa lại cái bản lề cửa bị kêu cót két. Hưng thì xuống bếp phụ tôi nấu ăn. Căn nhà vốn yên ắng bỗng ấm lên lạ thường.

    Tối đến, trước khi về, Hải quay lại nói:

    – Bố à, sau này đừng thử lòng tụi con bằng tiền nữa. Nếu bố cần gì, cứ nói thẳng.

    Tôi gật đầu, mắt cay xè.

    Hóa ra, 10 triệu đồng không làm rạn nứt tình anh em.

    Chính cách tôi cân đo tình cảm mới suýt khiến gia đình xa nhau.

    Và tôi biết, số tài sản lớn nhất mình có không phải 2 tỷ 990 triệu kia… mà là hai đứa con, mỗi đứa thương cha theo một cách khác nhau.

  • Năm 2005, khi ấy tôi vừa ngoài ba mươi, công việc kinh doanh đang phát đạt. Vì bận rộn, tôi thuê một người giúp việc để phụ chăm sóc nhà cửa.

    Năm 2005, khi ấy tôi vừa ngoài ba mươi, công việc kinh doanh đang phát đạt. Vì bận rộn, tôi thuê một người giúp việc để phụ chăm sóc nhà cửa.

    Năm 2005, khi ấy tôi vừa ngoài ba mươi, công việc kinh doanh đang phát đạt. Vì bận rộn, tôi thuê một người giúp việc để phụ chăm sóc nhà cửa. Người được giới thiệu là chị Biểu, khi đó khoảng bốn mươi tuổi, gầy gò, khuôn mặt rám nắng nhưng ánh mắt hiền lành.

    Từ ngày chị đến, nhà cửa gọn gàng, cơm nước tươm tất. Chị ít nói, làm việc cần mẫn, hầu như chẳng bao giờ kêu ca. Nhưng có một điều khiến tôi luôn băn khoăn: đêm nào tôi cũng thấy chị lén xuống bếp, mở lọ dầu ăn, chai mắm, hũ gạo… rồi múc đi một ít.

    Thoạt đầu, tôi nghĩ chị ăn vụng. Nhưng sau vài lần quan sát, tôi nhận ra chị chỉ lấy rất ít, đến mức khó ai phát hiện. Cảm giác ấy khiến tôi vừa khó chịu vừa áy náy.

    Tôi đã định nói chuyện thẳng thắn, nhưng rồi dừng lại. Thay vào đó, tôi lặng lẽ mua thêm đồ, đổ đầy các lọ chai trước khi chị kịp chạm tay vào. Tôi muốn xem chị định làm gì.

    Cứ như thế, suốt nhiều năm, tôi coi như không biết. Bạn bè nghe kể đều trách tôi:
    – Sao dễ dãi thế? Ăn trộm vặt thì mai mốt cũng ăn trộm lớn thôi!

    Tôi chỉ cười, trong lòng vẫn còn vướng mắc. Nhưng kỳ lạ, chị Biểu chưa bao giờ động đến tiền bạc hay đồ đạc có giá trị, chỉ quanh quẩn những thứ lặt vặt trong bếp.

    Chị Biểu gắn bó với gia đình tôi suốt nhiều năm. Chị chăm sóc hai con tôi như con ruột, dạy chúng học, đưa chúng đi học về. Các con tôi gọi chị là “dì Biểu”. Dù có đôi lần tôi thoáng thấy chị lén bỏ đồ ăn vào túi nylon nhỏ, nhưng chưa bao giờ chị giải thích.

    Nhiều lúc tôi tự nhủ: “Có lẽ chị nghèo quá, mang về cho gia đình ăn.” Nghĩ thế nên tôi càng không nỡ trách.

    Thời gian như gió. Từ năm 2005 đến 2020, chị Biểu vẫn âm thầm ở bên cạnh gia đình tôi. Khi tôi mở rộng công việc, khi con tôi đậu đại học, khi cha mẹ tôi mất… đều có chị kề bên.

    Năm 2022, chị xin nghỉ về quê, nói rằng sức khỏe không còn như trước. Tôi gói ghém một khoản tiền khá lớn coi như đền đáp hai mươi mấy năm tận tụy. Chị cảm động, ôm tôi khóc, nhưng vẫn không hề nói một lời về những lần “lén lút” năm xưa.

    Đầu năm 2023, trong một chuyến đi công tác ngang huyện miền núi, tôi tình cờ ghé vào một ngôi trường tiểu học vùng sâu. Ở đó, tôi nghe thầy hiệu trưởng kể về một “cô Biểu” đã lặng lẽ nuôi cơm cho mấy đứa trẻ mồ côi trong xóm suốt hai mươi năm qua.

    Tim tôi đập thình thịch. Tôi hỏi kỹ, quả đúng là chị Biểu!

    Người thầy kể:
    – Hồi đó, chị làm giúp việc ở thành phố. Mỗi đêm, chị lại mang về một ít gạo, mắm, dầu… gom góp nấu cho lũ nhỏ không cha mẹ. Nhờ chị, nhiều đứa được no bụng để tiếp tục đến trường. Chị chưa bao giờ kể ai nghe, cũng chẳng nhận công lao.

    Tôi chết lặng. Bao nhiêu năm qua, tôi nghĩ chị lấy cho riêng mình, hóa ra chị đang gánh cả một đàn trẻ cơ nhỡ.

    Tôi tìm đến căn nhà nhỏ nơi chị Biểu sống. Chị đã già yếu, mái tóc bạc trắng. Khi thấy tôi, chị ngạc nhiên rồi lúng túng:
    – Cô… sao lại đến đây?

    Tôi nghẹn ngào:

    – Chị ơi, sao chị không nói sớm? Tôi đâu tiếc mấy hạt gạo, chai dầu. Nếu tôi biết, tôi đã cùng chị giúp chúng nó.

    Chị rưng rưng:
    – Tôi sợ cô nghĩ tôi lợi dụng. Với lại… đó là việc tôi muốn làm cho đời. Cô cho tôi việc làm, cho tôi cơm ăn áo mặc, tôi chỉ mong góp chút gì cho những đứa trẻ khổ hơn mình.

    Những lời ấy khiến nước mắt tôi trào ra. Tôi nắm lấy đôi bàn tay gầy guộc của chị, tự hứa với lòng sẽ tiếp tục công việc chị đã dở dang.

    Từ ngày ấy, tôi thường xuyên gửi tiền và nhu yếu phẩm về cho lũ trẻ mà chị từng nuôi. Tôi kể lại câu chuyện này cho hai con, để chúng hiểu thế nào là lòng nhân ái và sự hi sinh thầm lặng.

    Còn chị Biểu, dù đã yếu, vẫn mỗi ngày ngồi trước hiên, mỉm cười nhìn lũ trẻ gọi mình là “mẹ Biểu”.

    22 năm trôi qua, bí mật tưởng chừng nhỏ bé ấy lại là minh chứng lớn lao nhất cho tình người. Và tôi hiểu rằng, đôi khi ta cần kiên nhẫn và bao dung, bởi có những hành động tưởng sai lầm, nhưng thực chất lại chứa đựng một trái tim bao la.

  • Ngày hoàn tất thủ tục ly hôn, tôi đem toàn bộ khu nhà cổ do cha mẹ để lại tặng cho viện dưỡng lão trong thành phố. Mẹ chồng cũ nghe tin liền kéo cả họ tới chặn cửa, gào lên: “Mười lăm người nhà tôi sẽ ở đâu?” Tôi bình thản mở tập hồ sơ và nói một câu khiến bà khuỵu xuống…

    Ngày hoàn tất thủ tục ly hôn, tôi đem toàn bộ khu nhà cổ do cha mẹ để lại tặng cho viện dưỡng lão trong thành phố. Mẹ chồng cũ nghe tin liền kéo cả họ tới chặn cửa, gào lên: “Mười lăm người nhà tôi sẽ ở đâu?” Tôi bình thản mở tập hồ sơ và nói một câu khiến bà khuỵu xuống…

    CHƯƠNG 1 MƯỜI LĂM NGƯỜI TRƯỚC CỔNG NHÀ

    — Cô mà bước thêm một bước, tôi sẽ nằm ngay trước cổng cho tất cả mọi người nhìn thấy!

    Tiếng hét chói gắt của bà Triệu vang dội khắp con ngõ lát đá xanh, khiến những vị khách đang uống trà trong quán đối diện đồng loạt quay đầu nhìn.

    Trước cánh cổng gỗ lớn của khu nhà cổ họ Thẩm, mười lăm người nhà họ Triệu đứng chen chúc thành một hàng dài. Người ôm túi quần áo, người kéo vali, người bế trẻ nhỏ, người mang theo cả ghế gấp và chăn đệm, như thể chỉ cần tôi mở cửa là họ sẽ lập tức tràn vào chiếm từng căn phòng.

    Bà Triệu Kim Phượng đứng giữa đám đông, mặc chiếc áo khoác nhung màu tím sẫm, mái tóc uốn gọn, cổ đeo chuỗi ngọc trai mà tôi từng mua tặng trong dịp sinh nhật sáu mươi tuổi.

    Bà chỉ thẳng vào mặt tôi, giọng run lên vì tức giận:

    — Mày vừa ly hôn con trai tao đã đem cả khu nhà đi tặng! Mày muốn mười lăm người nhà tao ngủ ngoài đường sao?

    Sau lưng bà, chồng cũ của tôi, Triệu Khải Văn, đứng im lặng.

    Anh mặc áo sơ mi trắng và áo khoác đen, vẫn giữ dáng vẻ lịch thiệp của một người đàn ông thành đạt. Nhưng sắc mặt anh hôm nay xám ngoét. Hai mắt liên tục nhìn tập hồ sơ trong tay tôi, như thể chỉ cần nhìn lâu hơn, những con dấu đỏ trên đó sẽ tự biến mất.

     

    Tôi không trả lời ngay.

    Tôi nhìn một lượt những người từng sống trong nhà mình suốt gần mười năm.

    Em trai chồng cũ cùng vợ và hai con.

    Chị gái chồng cũ cùng con trai đã trưởng thành.

    Cậu ruột của Khải Văn cùng vợ.

    Hai người cháu họ từ quê lên học rồi ở lại luôn.

    Một người dì góa chồng.

    Bố mẹ chồng cũ.

    Cùng ba người bà con xa từng nói chỉ ở tạm vài tháng, sau đó sống suốt sáu năm mà chưa từng trả một đồng tiền điện nước.

    Tổng cộng mười lăm người.

    Họ đứng trước căn nhà cổ do cha mẹ tôi để lại, nhưng ánh mắt lại giống những chủ nhân đang bị một người ngoài tước mất tài sản.

    Bà Kim Phượng bước lên, giật lấy tay áo tôi:

    — Nói đi! Mày đã ký thật chưa?

    Tôi nhẹ nhàng gỡ tay bà ra.

    — Đã ký.

    — Không thể nào!

    Bà quay sang đám đông, rồi lại nhìn tôi:

    — Căn nhà này trị giá ít nhất sáu mươi triệu nhân dân tệ. Mày đem tặng một viện dưỡng lão? Mày điên rồi sao?

    Tôi bình tĩnh mở tập hồ sơ.

    Trang đầu là giấy xác nhận hiến tặng tài sản.

    Trang thứ hai là bản đồ ranh giới khu nhà.

    Trang thứ ba là giấy xác nhận quyền sở hữu đứng tên riêng tôi, được lập từ trước khi kết hôn.

    Trang cuối là thông báo bàn giao mặt bằng trong vòng ba mươi ngày.

    Bà Kim Phượng nhìn thấy ngày ký, hai chân bỗng mềm đi.

    Bởi ngày trên giấy chính là hôm nay.

    Buổi sáng, tôi và Khải Văn hoàn tất thủ tục ly hôn tại cơ quan đăng ký hôn nhân thành phố Tô Châu.

    Buổi trưa, tôi tới văn phòng công chứng.

    Buổi chiều, quyền quản lý khu nhà cổ chính thức được chuyển cho Viện dưỡng lão Từ An.

    Bà Kim Phượng vẫn không chịu tin.

    — Nhà này là nhà của con trai tao! Hai đứa kết hôn mười hai năm, sao có thể là của riêng mày?

    Tôi lật trang giấy chứng nhận quyền sở hữu, chỉ vào dòng thời gian.

    — Cha mẹ tôi để lại cho tôi bốn năm trước khi tôi kết hôn với Khải Văn. Đây là tài sản riêng.

    — Nhưng nhà họ Triệu đã sống ở đây bao nhiêu năm!

    — Sống lâu không có nghĩa biến thành chủ sở hữu.

    — Mày…

    Bà giơ tay lên.

    Khải Văn lập tức bước tới giữ cổ tay mẹ.

    — Mẹ, đừng làm lớn chuyện.

    Bà quay sang con trai:

    — Con còn bảo mẹ đừng làm lớn? Vợ con vừa đem mái nhà của cả họ tặng cho người ngoài!

    Tôi nhìn Khải Văn.

    — Tôi không còn là vợ anh.

    Anh siết môi.

    Chỉ một câu ngắn, nhưng khiến toàn bộ đám đông im đi trong vài giây.

    Buổi sáng hôm nay, khi ký vào đơn ly hôn, Khải Văn vẫn nói:

    — Chúng ta chỉ tạm thời xa nhau. Sau này em bình tĩnh lại, anh sẽ đón em về.

    Có lẽ anh thật sự tin tôi chỉ đang giận.

    Có lẽ cả nhà họ Triệu cũng nghĩ cuộc ly hôn này chỉ là một màn phản kháng của người phụ nữ đã nhẫn nhịn quá lâu.

    Họ không ngờ tôi đã chuẩn bị cho ngày hôm nay suốt ba năm.

    Bà Kim Phượng giật tay khỏi con trai, quay lại chất vấn:

    — Tại sao mày làm thế? Nhà tao đã đối xử với mày tệ ở đâu?

    Tôi bật cười.

    Không lớn.

    Nhưng đủ khiến bà cau mặt.

    — Bà thật sự muốn tôi nói ở đây?

    — Nói! Mày nói cho tất cả mọi người nghe!

    Tôi đóng tập hồ sơ lại.

    — Được.

    Đám đông trước cổng bắt đầu xì xào. Những người hàng xóm đứng xa cũng tiến gần hơn.

    Tôi nhìn bà Kim Phượng.

    — Bà vừa hỏi mười lăm người nhà bà sẽ ở đâu.

    — Đúng!

    Tôi đưa tập hồ sơ lên.

    — Vậy xin bà hỏi lại con trai mình: mười lăm căn hộ mà anh ấy đã dùng tiền của tôi để mua, hiện đang đứng tên ai?

    Gương mặt Khải Văn lập tức trắng bệch.

    Bà Kim Phượng quay phắt sang anh:

    — Căn hộ nào?

    Không ai nói.

    Tôi nhìn chồng cũ.

    — Anh không định giải thích sao?

    Khải Văn hạ giọng:

    — Nhược Lan, chúng ta vào trong nói.

    — Không cần.

    — Đây là chuyện riêng.

    — Khi mười lăm người nhà anh kéo tới chặn cửa, nó không còn riêng nữa.

    Bà Kim Phượng nắm lấy tay con trai:

    — Khải Văn, cô ta nói gì? Con mua mười lăm căn hộ?

    Anh lảng tránh:

    — Mẹ đừng nghe cô ấy nói bừa.

    Tôi lấy trong túi một chiếc USB và vài bản sao kê ngân hàng.

    — Ba năm trước, Khải Văn nói công ty cần vốn để mở chuỗi nhà hàng ở Vô Tích và Thường Châu. Tôi bán hai cửa hàng mặt phố mẹ để lại, chuyển cho anh ấy tổng cộng ba mươi hai triệu nhân dân tệ.

    Tôi đặt các bản sao kê lên nắp xe.

    — Nhưng chuỗi nhà hàng chỉ nhận được mười một triệu. Hai mươi mốt triệu còn lại được chuyển qua bốn công ty trung gian rồi dùng để mua mười lăm căn hộ.

    Một người em họ của Khải Văn bật thốt:

    — Mười lăm căn?

    Tôi nhìn anh ta.

    — Đúng. Mỗi người trong số các vị đứng đây đều có một căn.

    Mọi ánh mắt lập tức dồn về phía Khải Văn.

    Bà Kim Phượng lắc đầu:

    — Không thể. Nếu có nhà, tại sao chúng ta không biết?

    Tôi nói:

    — Vì hiện tại chúng đang đứng tên người khác.

    — Ai?

    Tôi nhìn sang người phụ nữ đứng cuối đám đông.

    Cô ta khoảng ba mươi tuổi, mặc áo khoác màu kem, tay ôm một bé gái bốn tuổi.

    Tên cô ta là Tôn Nhã Lệ.

    Trên danh nghĩa, cô ta là giám đốc tài chính của công ty Khải Văn.

    Trên thực tế, cô ta cũng là người phụ nữ đã sống cùng chồng tôi trong một căn hộ khác suốt hơn ba năm.

    Nhã Lệ nhận ra mọi người đang nhìn mình, lập tức lùi lại.

    Bà Kim Phượng cũng quay đầu.

    — Nhìn cô ấy làm gì?

    Tôi đáp:

    — Mười lăm căn hộ đều đứng tên cô Tôn.

    Đứa bé trong tay Nhã Lệ bỗng gọi:

    — Cha!

    Giọng trẻ con trong trẻo vang lên.

    Con bé đưa tay về phía Khải Văn.

    — Cha bế con.

    Không gian trước cổng chìm vào sự im lặng kỳ quái.

    Khải Văn nhắm mắt.

    Nhã Lệ ôm chặt con.

    Bà Kim Phượng nhìn cháu bé rồi nhìn con trai.

    — Nó gọi ai?

    Đứa trẻ lại nói:

    — Cha!

    Lần này, nó chỉ thẳng Khải Văn.

    Bà Kim Phượng lảo đảo.

    — Khải Văn…

    Anh vội bước tới:

    — Mẹ, mẹ nghe con giải thích.

    Bà tát anh.

    Một tiếng rất mạnh.

    — Con bé là con của ai?

    Khải Văn không đáp.

    Nhã Lệ khóc:

    — Bác gái, đứa bé không có lỗi.

    Bà Kim Phượng lao tới như muốn kéo con bé xuống, nhưng tôi lập tức chắn trước mặt.

    — Đừng động vào trẻ con.

    — Mày tránh ra! — bà hét. — Đây là chuyện nhà tao!

    — Chính vì là chuyện nhà bà nên bà càng không được trút giận lên đứa trẻ.

    Bà chỉ vào Nhã Lệ:

    — Con đàn bà này lấy nhà của chúng ta!

    Nhã Lệ tái mặt:

    — Không phải tôi muốn đứng tên. Anh Khải Văn nói làm vậy để tránh rủi ro kinh doanh.

    Tôi cười nhạt:

    — Cô cũng tin sao?

    Cô nhìn tôi.

    — Chị muốn nói gì?

    — Mười lăm căn hộ không còn đứng tên cô nữa.

    Nhã Lệ sững lại.

    Khải Văn lập tức nhìn tôi.

    — Em đã làm gì?

    — Tôi không làm gì. Chính anh làm.

    Tôi lấy thêm một tập giấy.

    — Hai tháng trước, anh dùng các căn hộ đó thế chấp cho khoản vay bốn mươi triệu nhân dân tệ để cứu công ty đang thua lỗ. Nhưng vì giấy tờ đứng tên Nhã Lệ, toàn bộ trách nhiệm vay cũng đứng tên cô ấy.

    Nhã Lệ run rẩy.

    — Anh nói chỉ ký bảo lãnh tạm thời.

    Khải Văn gắt lên:

    — Em im đi!

    Cô lùi lại, ôm con khóc.

    Bà Kim Phượng ngồi phịch xuống chiếc vali bên cạnh.

    Mười lăm người nhà họ Triệu bắt đầu nhìn nhau.

    Người em trai chồng bước tới túm cổ áo Khải Văn:

    — Anh nói căn hộ ở khu Tân Hồ sau này sẽ sang tên cho em!

    Chị gái anh cũng chen vào:

    — Còn căn ở Ngô Trung anh bảo để cho con trai em cưới vợ!

    Người cậu họ quát:

    — Căn ở gần bệnh viện đâu? Cháu nói mua để vợ chồng cậu dưỡng già!

    Cả đám đồng loạt vây quanh Khải Văn.

    Chỉ trong vài phút, những người trước đó còn chung sức chất vấn tôi đã quay sang giằng co với người họ xem là trụ cột gia đình.

    Khải Văn hét:

    — Đủ rồi! Tôi mua nhà cho mọi người thật, chỉ là công ty tạm thời khó khăn!

    Tôi hỏi:

    — Công ty khó khăn vì kinh doanh hay vì anh rút tiền?

    Anh quay sang tôi.

    — Em đừng nói nữa.

    — Tại sao? Sợ họ biết căn biệt thự ven hồ anh mua cho Nhã Lệ bằng tiền quỹ sao?

    Nhã Lệ bật khóc:

    — Căn đó anh nói là tài sản của công ty!

    Khải Văn nghiến răng:

    — Cô câm miệng!

    Tôi nhìn người đàn ông từng chung sống với mình mười hai năm.

    Ngày còn trẻ, Khải Văn không như vậy.

    Anh xuất thân từ một gia đình bình thường ở ngoại ô Tô Châu. Cha làm bảo vệ nhà máy, mẹ bán đồ ăn sáng. Anh học giỏi, chăm chỉ, nói năng khiêm tốn.

    Chúng tôi quen nhau khi cùng làm trong một nhà hàng gần Bình Giang Lộ.

    Tôi là con gái duy nhất của gia đình kinh doanh trà lâu đời.

    Cha mẹ tôi không quá giàu, nhưng có khu nhà cổ gồm ba sân lớn và vài cửa hàng mặt phố.

    Khải Văn khi ấy chỉ là quản lý ca tối.

    Anh thường đưa tôi về sau giờ làm.

    Một đêm mưa, anh đứng dưới mái hiên nói:

    — Nhược Lan, anh không có nhà lớn, không có xe tốt. Nhưng anh sẽ không để em phải hối hận khi chọn anh.

    Tôi tin.

    Cha tôi phản đối không phải vì anh nghèo, mà vì nhìn thấy trong anh một sự nóng vội.

    Ông nói:

    — Người nghèo không đáng sợ. Người quá sợ nghèo mới đáng sợ.

    Tôi cho rằng cha thành kiến.

    Tôi cãi nhau với gia đình rồi cưới Khải Văn.

    Năm đầu, chúng tôi sống hạnh phúc trong một căn phòng nhỏ ở sân phía đông.

    Năm thứ hai, em trai anh tới tìm việc.

    Tôi cho ở tạm.

    Năm thứ ba, bố mẹ anh nói nhà cũ bị giải tỏa, xin chuyển tới vài tháng.

    Năm thứ tư, chị gái ly hôn, đưa con về.

    Sau đó người này kéo người kia.

    Căn nhà ba sân của cha mẹ tôi dần biến thành nơi ở của cả họ Triệu.

    Ban đầu, tôi thấy đông vui.

    Tôi mua thêm giường, sửa phòng, lắp máy sưởi.

    Tiền điện nước do tôi trả.

    Tiền ăn chia theo lời nói nhưng cuối cùng phần lớn vẫn từ cửa hàng trà của tôi.

    Mẹ chồng khen:

    — Con dâu nhà khác tính toán từng đồng. Nhược Lan nhà chúng ta rộng lượng.

    Nhưng khi cha mẹ tôi lần lượt qua đời, lời khen thay đổi.

    Bà bắt đầu nói:

    — Con gái đã lấy chồng thì nhà ngoại cũng là tài sản chung.

    Khải Văn khi ấy đã mở công ty dịch vụ ăn uống.

    Anh cần tiền.

    Tôi bán cửa hàng đầu tiên.

    Rồi cửa hàng thứ hai.

    Anh nói:

    — Khi công ty ổn định, anh sẽ mua lại gấp đôi.

    Tôi không ngờ tiền ấy biến thành mười lăm căn hộ bí mật.

    Tôi càng không ngờ anh dùng những căn hộ đó để mua lòng cả họ, nhưng chưa bao giờ thật sự trao chúng cho ai.

    Mỗi người đều được hứa một căn.

    Mỗi người đều nghĩ mình là người đặc biệt.

    Còn anh giữ toàn bộ quyền kiểm soát thông qua Nhã Lệ.

    Bà Kim Phượng ngồi dưới đất, nhìn tôi:

    — Mày biết từ bao giờ?

    — Ba năm trước.

    Khải Văn kinh ngạc:

    — Ba năm?

    — Đúng.

    — Vậy tại sao em không nói?

    — Tôi cần biết anh còn giấu bao nhiêu.

    — Em theo dõi tôi?

    — Tôi kiểm tra tiền của mình.

    Tôi mở một tập hồ sơ khác.

    — Tôi còn biết công ty anh nợ nhà cung cấp mười tám triệu, nợ ngân hàng bốn mươi triệu, nợ lương nhân viên bốn tháng. Tổng số tiền các tài khoản liên quan bị phong tỏa là hơn sáu mươi triệu.

    Bà Kim Phượng thở dốc:

    — Vậy… vậy chúng ta sẽ thế nào?

    Tôi nhìn bà.

    — Đó là câu bà nên hỏi con trai mình, không phải tôi.

    Bà bò dậy, nắm lấy tay tôi:

    — Nhược Lan, con không thể tuyệt tình như thế. Dù ly hôn, chúng ta vẫn từng là người một nhà.

    Tôi rút tay về.

    — Khi tôi nằm viện sau ca phẫu thuật hai năm trước, mười lăm người nhà bà có ai tới chăm tôi không?

    Bà cứng người.

    Tôi nhớ rất rõ.

    Tôi phải phẫu thuật u xơ tử cung.

    Khải Văn nói bận ký hợp đồng.

    Mẹ chồng bảo đau đầu.

    Chị chồng nói con trai thi.

    Em dâu nói không biết đường tới bệnh viện.

    Cuối cùng, người chăm tôi là bà Hà, một người giúp việc từng làm cho cha mẹ tôi.

    Sau mổ, bác sĩ nói tôi khó có khả năng mang thai.

    Ba ngày sau, mẹ chồng tới bệnh viện, không hỏi tôi đau không.

    Bà chỉ nói:

    — Không sinh được con thì sau này tài sản để cho ai? Chi bằng sang tên nhà cho Khải Văn sớm.

    Tôi hỏi:

    — Mẹ chỉ lo chuyện đó sao?

    Bà đáp:

    — Tôi lo cho tương lai nhà họ Triệu.

    Đó là lần đầu tiên tôi hiểu mình chưa từng thật sự được xem là người nhà.

    Tôi chỉ là chiếc cầu đưa họ bước vào căn nhà cổ.

    Tôi nói với bà Kim Phượng:

    — Bà còn nhớ sau khi tôi phẫu thuật, bà nói gì không?

    Bà tránh mắt.

    — Chuyện cũ nhắc lại làm gì?

    — Vì chính hôm đó tôi bắt đầu chuẩn bị ly hôn.

    Khải Văn nhìn tôi:

    — Em đã muốn ly hôn từ hai năm trước?

    — Đúng.

    — Nhưng sau đó em vẫn ký giấy vay cho công ty.

    — Tôi không ký bảo lãnh. Chữ ký của tôi trên giấy là giả.

    Sắc mặt anh lập tức biến đổi.

    — Em nói linh tinh.

    — Chuyên gia giám định đã xác nhận.

    Tôi đưa một bản sao kết luận.

    — Hồ sơ đã được gửi tới cơ quan điều tra sáng nay.

    Khải Văn lùi một bước.

    Bà Kim Phượng ôm ngực.

    — Con giả chữ ký của vợ?

    Anh quát:

    — Tôi làm vì công ty! Nếu công ty sụp, tất cả mọi người đều mất!

    Tôi nói:

    — Công ty đã sụp từ khi anh dùng nó làm nơi rút tiền cho bản thân.

    — Anh làm tất cả vì gia đình.

    — Gia đình nào?

    Tôi nhìn Nhã Lệ và đứa bé.

    — Gia đình ở đây hay gia đình trong căn biệt thự ven hồ?

    Khải Văn không nói được.

    Tôi quay sang bà Kim Phượng.

    — Bà vừa hỏi mười lăm người sẽ ở đâu.

    Bà nhìn tôi.

    Tôi nói câu đã chuẩn bị từ rất lâu:

    — Hãy về ở trong mười lăm căn nhà mà con trai bà đã hứa, còn nếu chúng không tồn tại trong tay các người, thì căn nhà cổ này càng chưa bao giờ thuộc về nhà họ Triệu.

    Hai chân bà mềm đi.

    Bà ngồi khuỵu xuống bậc cửa.

    Không thốt thêm được lời nào.

    Tôi ra hiệu cho đại diện Viện dưỡng lão Từ An đang đứng phía sau.

    Một người đàn ông trung niên cùng hai nhân viên bước tới.

    — Theo thỏa thuận bàn giao, từ hôm nay chúng tôi sẽ tiến hành kiểm kê. Những người đang cư trú có ba mươi ngày để thu xếp.

    Em trai Khải Văn tức giận:

    — Ba mươi ngày? Chúng tôi sống ở đây hơn mười năm!

    Người đại diện bình tĩnh:

    — Chúng tôi có văn bản hợp pháp. Sau ba mươi ngày, khu nhà sẽ được sửa thành cơ sở chăm sóc người cao tuổi neo đơn.

    Chị gái Khải Văn gào lên:

    — Chúng tôi cũng có người già! Mẹ tôi hơn sáu mươi rồi!

    Tôi nhìn bà Kim Phượng.

    — Bà có ba người con ruột. Không thuộc diện không nơi nương tựa.

    Bà ngẩng lên, nước mắt trào ra.

    — Nhược Lan, con thật sự không chừa đường sống?

    — Tôi đã chừa mười hai năm.

    Tôi mở cổng.

    Không phải để họ vào.

    Mà để những nhân viên của viện dưỡng lão bước qua.

    Trên cánh cửa gỗ, tấm biển “Thẩm trạch” vẫn còn đó.

    Cha tôi từng nói:

    — Nhà không chỉ là tường và mái. Nhà là cách người bên trong đối xử với nhau.

    Mười hai năm qua, nơi này đầy người.

    Nhưng với tôi, nó chưa từng còn là nhà.

    Tôi bước vào sân rồi quay lại nhìn Khải Văn.

    — Anh có ba mươi ngày thu xếp cho gia đình.

    Anh nhìn tôi, ánh mắt vừa giận vừa hoảng.

    — Em nghĩ tặng nhà là xong sao? Công ty, khoản nợ, Nhã Lệ… tất cả vẫn có thể giải quyết. Chỉ cần em rút đơn tố cáo và hủy hợp đồng hiến tặng.

    — Hợp đồng không thể hủy đơn phương.

    — Em sẽ hối hận.

    — Điều tôi hối hận nhất là đã tin anh quá lâu.

    Tôi quay đi.

    Sau lưng, tiếng người nhà họ Triệu tranh cãi vang lên hỗn loạn.

    Người trách Khải Văn lừa dối.

    Người trách Nhã Lệ cướp nhà.

    Người trách bà Kim Phượng thiên vị con trai.

    Nhưng không ai tự hỏi vì sao họ có thể sống trong nhà của người khác hơn mười năm mà chưa từng chuẩn bị cho cuộc sống riêng.

    Tôi đi qua sân thứ nhất.

    Cây lựu mẹ trồng vẫn còn.

    Đi qua sân thứ hai.

    Cửa phòng cha mẹ đã khóa từ lâu.

    Đi tới sân sau, tôi dừng trước căn phòng nhỏ nơi từng sống cùng Khải Văn năm đầu hôn nhân.

    Bên trong vẫn còn chiếc bàn gỗ chúng tôi mua khi mới cưới.

    Trên mặt bàn có một vết xước hình trăng khuyết.

    Năm đó, anh vụng về lắp bàn, dao trượt làm xước.

    Tôi tiếc của.

    Anh cười:

    — Sau này nhìn thấy sẽ nhớ ngày chúng ta nghèo mà vui.

    Tôi từng thật sự tin chỉ cần hai người thương nhau, nghèo cũng không đáng sợ.

    Nhưng cha tôi đã đúng.

    Khải Văn không sợ nghèo.

    Anh căm ghét nó.

    Anh muốn chứng minh mình không còn là chàng trai phải cúi đầu trước gia đình vợ.

    Và để làm điều đó, anh biến mọi người xung quanh thành công cụ.

    Điện thoại tôi rung.

    Một tin nhắn từ số lạ:

    “Cô nghĩ mình thắng rồi sao? Căn nhà này còn một bí mật mà cha cô chưa từng nói. Nếu viện dưỡng lão bắt đầu sửa chữa, bí mật ấy sẽ bị đào lên.”

    Kèm theo là một bức ảnh cũ.

    Trong ảnh, cha tôi đứng ở sân sau cùng một người đàn ông tôi chưa từng gặp.

    Dưới chân họ là một cánh cửa gỗ dẫn xuống lòng đất.

    Tôi nhìn nền sân.

    Nơi đó hiện đã được lát kín bằng đá xanh.

    Tin nhắn thứ hai tới ngay sau đó:

    “Muốn biết vì sao Khải Văn cưới cô ngay từ đầu, hãy mở căn hầm dưới cây hòe trước khi người khác mở nó.”

    Tôi đứng yên giữa sân.

    Ngoài cổng, cuộc tranh giành vẫn tiếp tục.

    Nhưng tôi biết chuyện của khu nhà cổ chưa kết thúc.

    Cuộc ly hôn chỉ vừa mở cánh cửa đầu tiên.

    Và dưới nền đất của căn nhà cha mẹ để lại, có thể đang chôn một bí mật liên quan đến lý do người chồng từng thề yêu tôi đã bước vào cuộc đời tôi từ mười hai năm trước.


    CHƯƠNG 2 CĂN HẦM DƯỚI CÂY HÒE

    Tôi không trả lời tin nhắn.

    Thay vào đó, tôi chụp lại màn hình rồi chuyển cho luật sư Trương Hải Bình.

    Anh gọi lại sau chưa đầy một phút.

    — Chị đang ở đâu?

    — Trong khu nhà.

    — Đừng tự mở bất kỳ căn hầm nào. Tôi sẽ tới cùng người của viện dưỡng lão và một chuyên gia xây dựng.

    — Anh nghĩ tin nhắn là thật sao?

    — Ít nhất bức ảnh không giống ảnh ghép đơn giản. Cánh cửa có thể tồn tại.

    — Ai gửi?

    — Chưa xác định được. Số đăng ký bằng giấy tờ không chính chủ.

    Tôi nhìn cây hòe già giữa sân sau.

    Nó đã hơn tám mươi năm tuổi, thân lớn đến mức hai người ôm mới xuể. Cha tôi từng cấm mọi người đào bới quanh gốc.

    Ông nói rễ cây đã ăn sâu vào nền, động vào sẽ ảnh hưởng kết cấu nhà.

    Tôi luôn tin đó chỉ là lý do bảo vệ cây.

    Bây giờ tôi không chắc nữa.

    Nửa giờ sau, luật sư Trương tới cùng đại diện viện dưỡng lão, một kỹ sư bảo tồn nhà cổ và hai nhân viên công chứng.

    Khải Văn vẫn chưa rời đi.

    Anh đứng ngoài sân thứ nhất, bị người nhà vây quanh yêu cầu giải thích về mười lăm căn hộ.

    Khi thấy nhóm người tiến vào sân sau, anh lập tức đi theo.

    — Mọi người định làm gì?

    Tôi nhìn anh.

    — Kiểm tra kết cấu trước bàn giao.

    — Tại sao vào sân sau?

    — Không liên quan đến anh.

    Anh nắm cổ tay tôi.

    — Nhược Lan, em đừng tiếp tục làm mọi chuyện nghiêm trọng hơn.

    Tôi rút tay ra.

    — Người làm nghiêm trọng là anh.

    Luật sư Trương đứng chắn giữa hai người.

    — Anh Triệu, thân chủ của tôi không muốn trao đổi riêng với anh.

    Khải Văn nhìn anh ta đầy tức giận.

    — Đây là nhà tôi.

    Tôi đáp:

    — Anh vừa quên điều gì sao?

    — Tôi đã sống ở đây mười hai năm.

    — Và hôm nay là ngày cuối cùng anh có quyền gọi đây là nơi cư trú theo quan hệ hôn nhân.

    Kỹ sư bắt đầu đo nền đất quanh cây hòe bằng thiết bị quét.

    Sau mười phút, ông chỉ vào một khu vực gần bức tường phía tây.

    — Dưới đây có khoảng rỗng, rộng chừng mười lăm mét vuông.

    Khải Văn bỗng nói:

    — Không được mở.

    Mọi người quay lại nhìn anh.

    Tôi hỏi:

    — Tại sao?

    — Nhà cổ lâu năm, đào lên có thể sập.

    Kỹ sư đáp:

    — Chúng tôi sẽ mở theo phương án an toàn.

    Khải Văn bước tới:

    — Tôi nói không được.

    Luật sư Trương nhìn anh:

    — Anh biết dưới đó có gì?

    Anh khựng lại.

    Tôi nhớ tin nhắn.

    “Lý do Khải Văn cưới cô ngay từ đầu.”

    Tôi hỏi:

    — Anh từng xuống căn hầm?

    — Không.

    — Vậy sao anh sợ?

    — Tôi chỉ không muốn em phá nhà vì một tin nhắn lạ.

    — Nhà đã được hiến tặng. Việc kiểm tra an toàn là cần thiết.

    Anh nhìn tôi rất lâu.

    — Em sẽ hối hận.

    Tôi đáp:

    — Anh đã nói câu đó rồi.

    Sau khi dời ba phiến đá xanh, nhóm kỹ sư tìm thấy một vòng sắt gỉ nằm chìm dưới đất.

    Kéo lên, một tấm cửa gỗ dày xuất hiện.

    Mùi ẩm mốc từ dưới hầm bốc lên.

    Cầu thang đá dẫn xuống bóng tối.

    Khải Văn quay đầu định rời đi.

    Tôi gọi:

    — Đứng lại.

    Anh không dừng.

    Luật sư Trương nói:

    — Anh Triệu, nếu anh biết thông tin liên quan tài sản và cố tình che giấu, tốt nhất nên ở lại làm chứng.

    Khải Văn quay lại, sắc mặt khó coi.

    Chúng tôi xuống hầm theo thứ tự.

    Bên trong không lớn.

    Tường xây bằng gạch xám.

    Có ba kệ gỗ, hai rương sắt và một chiếc bàn phủ bụi.

    Không có vàng bạc hay cổ vật như tôi từng thoáng nghĩ.

    Chỉ có rất nhiều hồ sơ.

    Trên tường treo một bản đồ khu phố cổ Tô Châu từ hơn hai mươi năm trước.

    Một số căn nhà được đánh dấu đỏ.

    Tôi nhận ra khu nhà của gia đình mình, nhà kho cũ phía bắc và vài cửa hàng ven kênh.

    Kỹ sư bật đèn sáng hơn.

    Trên bàn có một tập hồ sơ mang tên:

    “Dự án bảo tồn khu dân cư Bình Giang — phương án chuyển nhượng quyền sử dụng.”

    Tôi mở ra.

    Trang đầu ghi tên công ty: Công ty Phát triển Minh Triệu.

    Người đại diện pháp luật đầu tiên: Triệu Quốc Thành.

    Đó là cha của Khải Văn.

    Tôi quay sang anh.

    — Cha anh từng có công ty bất động sản?

    Anh im lặng.

    Trong trí nhớ của tôi, bố chồng chỉ là bảo vệ nhà máy.

    Ông luôn kể trước khi nghỉ hưu chưa từng làm kinh doanh.

    Tôi mở tiếp.

    Hai mươi năm trước, công ty Minh Triệu từng muốn mua lại toàn bộ dãy nhà cổ khu này với giá thấp để xây khách sạn.

    Cha tôi, Thẩm Đức Xương, là người đứng đầu nhóm cư dân phản đối.

    Ông thu thập tài liệu chứng minh công ty dùng hợp đồng giả, ép một số người già ký chuyển nhượng và mua chuộc cán bộ địa phương.

    Dự án bị đình chỉ.

    Công ty Minh Triệu phá sản.

    Triệu Quốc Thành mất toàn bộ vốn liếng.

    Tôi ngẩng lên.

    — Đây là lý do cha anh luôn lạnh nhạt với cha tôi?

    Khải Văn đáp:

    — Chuyện thế hệ trước.

    — Anh biết từ đầu?

    — Sau khi chúng ta quen nhau mới biết.

    — Nói dối.

    Tôi lấy một bức ảnh từ hồ sơ.

    Trong ảnh là Khải Văn thời trẻ, đứng ngoài cửa hàng trà của gia đình tôi.

    Ngày chụp là sáu tháng trước khi chúng tôi chính thức gặp nhau tại nhà hàng.

    Mặt sau có dòng chữ viết tay:

    “Con trai Triệu Quốc Thành tiếp cận con gái Thẩm Đức Xương.”

    Tôi cảm thấy bàn tay lạnh đi.

    — Ai ghi?

    Khải Văn không đáp.

    Tôi mở chiếc rương sắt đầu tiên.

    Bên trong là thư từ giữa cha tôi và một người tên La Trường Hải, từng làm kế toán công ty Minh Triệu.

    Một bức thư viết:

    “Khải Văn không biết toàn bộ việc cha nó đã làm, nhưng gần đây cậu ta thường xuất hiện gần Nhược Lan. Tôi không chắc đây là tình cờ.”

    Bức tiếp theo:

    “Triệu Quốc Thành bệnh nặng. Ông ta vẫn tin khu nhà họ Thẩm là nguyên nhân gia đình mình suy sụp. Xin anh cẩn trọng.”

    Tôi nhớ lại cha từng phản đối cuộc hôn nhân dữ dội.

    Không chỉ vì Khải Văn nghèo.

    Ông đã biết gia đình anh có mục đích.

    Nhưng vì sao cha không nói rõ?

    Trong rương thứ hai, tôi tìm thấy câu trả lời.

    Một đoạn ghi âm trên máy cassette cũ.

    Kỹ sư tìm được thiết bị phát vẫn hoạt động.

    Giọng cha tôi vang lên, trầm và mệt mỏi:

    “Nhược Lan, nếu con nghe được băng này, có lẽ cha đã không còn.

    Cha không nói hết về Khải Văn vì sợ con càng bị cấm càng muốn cưới.

    Cha đã quan sát cậu ta.

    Ban đầu, cậu ta tiếp cận con theo lời cha mình.

    Nhưng sau đó, cha tin cậu ta thật sự có tình cảm.

    Con người có thể bắt đầu bằng mục đích sai nhưng vẫn có thể lựa chọn sống đúng.

    Cha không muốn quá khứ của hai gia đình quyết định hạnh phúc của con.

    Tuy nhiên, cha giữ những tài liệu này để nếu một ngày cậu ta dùng hôn nhân lấy khu nhà, con có bằng chứng bảo vệ mình.”

    Tôi nhắm mắt.

    Cha đã nhìn thấy mọi thứ.

    Ông biết Khải Văn đến gần tôi không hoàn toàn tình cờ.

    Nhưng ông vẫn để tôi tự chọn.

    Ông thậm chí cho Khải Văn cơ hội trở thành người khác.

    Tôi nhìn chồng cũ.

    — Anh nghe rõ chứ?

    Anh cúi đầu.

    — Anh đã định nói với em.

    Tôi bật cười.

    — Hôm nay ai cũng “định nói”.

    — Ban đầu cha anh muốn anh tiếp cận để tìm hồ sơ chống lại ông ấy.

    — Anh đã tìm thấy căn hầm từ khi nào?

    — Sau khi cưới hai năm.

    — Anh xuống đây?

    — Một lần.

    — Lấy gì?

    Anh im lặng.

    Luật sư Trương hỏi:

    — Có tài liệu nào đã bị lấy khỏi đây không?

    Tôi nhìn kệ.

    Một khoảng trống hình chữ nhật phủ ít bụi hơn phần còn lại.

    Khải Văn cuối cùng nói:

    — Một cuốn sổ kế toán của công ty Minh Triệu.

    — Anh dùng nó làm gì?

    — Chứng minh cha anh không phải người duy nhất chịu trách nhiệm.

    — Với ai?

    — Một nhà đầu tư.

    Tôi hiểu ra.

    — Tống Vĩ Dân?

    Khải Văn giật mình.

    Tống Vĩ Dân là chủ tập đoàn bất động sản đã đầu tư cho công ty anh ba năm trước.

    Chính sau khoản đầu tư đó, Khải Văn mở rộng chuỗi nhà hàng và bắt đầu mua căn hộ.

    Tôi hỏi:

    — Tống Vĩ Dân từng liên quan dự án mua khu phố cổ?

    Khải Văn đáp:

    — Cha ông ta là cổ đông ngầm của Minh Triệu.

    Luật sư Trương lật hồ sơ.

    — Nếu vậy, cuốn sổ có thể chứng minh hoạt động chuyển tiền bất hợp pháp thời đó.

    — Đúng.

    — Anh đưa cho họ để đổi lấy vốn đầu tư?

    — Tôi chỉ cho xem bản sao.

    Tôi nhìn anh.

    — Và đổi lại, họ yêu cầu anh làm gì?

    Khải Văn không đáp.

    Một tin nhắn mới tới điện thoại tôi.

    “Đừng tin anh ta. Dự án khách sạn vẫn chưa chết.”

    Kèm theo một tài liệu quy hoạch mới.

    Khu nhà cổ của tôi cùng bảy căn xung quanh được khoanh thành khu nghỉ dưỡng cao cấp.

    Đơn vị đề xuất: Công ty Văn hóa Giang Nam.

    Người sở hữu thực tế: Tống Vĩ Dân.

    Tôi đưa cho luật sư.

    Anh xem xong, sắc mặt nghiêm lại.

    — Hồ sơ đề xuất mới lập sáu tháng trước.

    Tôi quay sang Khải Văn.

    — Anh định dùng cuộc ly hôn để lấy một phần quyền sở hữu khu nhà?

    — Không.

    — Tại sao luật sư của anh từng yêu cầu chia giá trị tăng thêm của căn nhà?

    — Chỉ là đề xuất.

    — Anh biết nếu tôi giữ nhà, Tống gia không thể triển khai dự án. Vì vậy anh vừa muốn chiếm, vừa muốn giữ cả họ sống ở đây để tạo tranh chấp cư trú.

    Anh bước tới.

    — Nhược Lan, nghe anh giải thích. Tống Vĩ Dân nói nếu dự án thành công, mọi người sẽ được bố trí căn hộ mới. Căn nhà cổ xuống cấp, sớm muộn cũng phải sửa.

    — Nên anh dùng mười lăm người làm công cụ?

    — Tôi muốn họ có nhà.

    — Không. Anh muốn họ không chịu rời đi để ép tôi bán.

    Gương mặt anh lộ vẻ mệt mỏi.

    — Em không hiểu áp lực của anh.

    — Lại là áp lực?

    — Cha anh mất trong uất ức. Ông luôn nói nhà họ Thẩm khiến ông mất tất cả. Anh lớn lên trong căn phòng chưa tới hai mươi mét vuông, mỗi ngày nghe mẹ than không có nhà. Khi gặp em, anh chỉ muốn biết tại sao gia đình em có thể sống trong một khu nhà lớn như thế, còn nhà anh phải chen chúc.

    — Rồi anh yêu tôi sao?

    Anh nhìn tôi.

    — Có.

    — Từ lúc nào?

    — Anh không biết.

    — Có lúc nào anh từng định từ bỏ mục đích ban đầu?

    Khải Văn im lặng rất lâu.

    — Có.

    — Khi nào?

    — Năm đầu tiên sau cưới.

    — Vậy tại sao cuối cùng vẫn quay lại?

    — Vì khi công ty thất bại, cha trước lúc mất nói anh đã quên nỗi nhục của nhà họ Triệu.

    Tôi hiểu.

    Khải Văn từng có cơ hội bước ra khỏi quá khứ.

    Nhưng anh chọn quay lại.

    Không phải vì cha ép.

    Người đã chết không thể điều khiển người sống, trừ khi người sống tự nguyện biến lời họ thành xiềng xích.

    Bà Kim Phượng lúc này cũng xuống hầm.

    Bà nghe được phần cuối, liền nói:

    — Cha nó nói đúng! Nhà họ Thẩm sống sung sướng trên mồ hôi của nhà tôi!

    Tôi quay sang bà.

    — Cha tôi không lấy của nhà bà một đồng. Ông ngăn một dự án gian dối.

    — Nếu không có ông ấy, công ty cha Khải Văn đã thành công!

    Luật sư Trương nói:

    — Theo hồ sơ, công ty Minh Triệu dùng hợp đồng giả và ép người già chuyển nhượng. Việc bị đình chỉ là hậu quả từ hành vi của họ.

    Bà Kim Phượng gắt:

    — Luật pháp gì chứ? Người thắng thì nói gì cũng đúng!

    Tôi nhìn bà.

    — Có phải bà luôn biết Khải Văn tiếp cận tôi vì căn nhà?

    Bà tránh mắt.

    — Mẹ chỉ biết sau khi hai đứa quen nhau.

    — Bà từng phản đối không?

    — Tại sao phải phản đối? Nó cưới con, hai nhà hóa giải thù cũ.

    — Hay bà nghĩ cuối cùng khu nhà sẽ thành của nhà họ Triệu?

    Bà không trả lời.

    Tôi bật máy ghi âm trong điện thoại.

    Một đoạn hội thoại vang lên.

    Giọng bà Kim Phượng từ ba năm trước:

    “Nhược Lan không sinh được con, sau này căn nhà cũng phải để lại cho Khải Văn. Con cứ kiên nhẫn. Đừng ly hôn lúc này.”

    Giọng Khải Văn:

    “Cô ấy bắt đầu kiểm tra tài khoản.”

    Bà đáp:

    “Thì để cả họ chuyển đến đăng ký tạm trú. Người càng đông, sau này cô ấy muốn bán hay tặng cũng khó.”

    Mặt bà Kim Phượng trắng bệch.

    — Mày ghi âm mẹ?

    — Đây là đoạn ghi từ camera trong phòng khách.

    — Mày đặt camera theo dõi người nhà?

    — Tôi đặt sau khi mất một số giấy tờ sở hữu.

    Khải Văn nhìn mẹ.

    — Mẹ từng vào phòng làm việc của Nhược Lan?

    Bà lắp bắp:

    — Mẹ chỉ tìm giấy hộ khẩu.

    Tôi nói:

    — Bà tìm giấy chứng nhận nhà. Sau đó đưa cho Khải Văn sao chép.

    Anh cúi đầu.

    Bên ngoài căn hầm, tiếng bước chân vang lên.

    Nhã Lệ xuất hiện, vẫn bế con.

    Cô nhìn Khải Văn, nước mắt đầy mặt.

    — Em đã nghe hết.

    Anh cau mày:

    — Em xuống đây làm gì?

    — Anh nói cưới chị ấy vì yêu. Anh nói chỉ ở lại nhà họ Thẩm vì mẹ ép. Hóa ra ngay từ đầu anh đã nhắm vào căn nhà.

    — Nhã Lệ, bây giờ không phải lúc.

    — Khi nào mới là lúc? Khi ngân hàng tới thu mười lăm căn hộ đứng tên em?

    Cô đặt một tập giấy lên bàn.

    — Đây là tài liệu em lấy từ két công ty.

    Khải Văn lập tức bước tới.

    — Đưa đây!

    Luật sư Trương chắn lại.

    Nhã Lệ nhìn tôi:

    — Chị Thẩm, em biết chị không tin em. Em cũng từng làm sai. Nhưng em không muốn con gái phải gánh nợ của anh ấy.

    Trong tập giấy có hợp đồng bí mật giữa Khải Văn và Tống Vĩ Dân.

    Nếu Khải Văn khiến tôi chuyển nhượng khu nhà cổ hoặc đưa tài sản vào công ty chung, anh sẽ nhận mười phần trăm cổ phần dự án khu nghỉ dưỡng.

    Nếu không hoàn thành trong vòng ba năm, anh phải hoàn lại khoản đầu tư và chịu lãi.

    Thời hạn kết thúc chính là tháng sau.

    Đó là lý do ba năm qua anh liên tục gây áp lực.

    Yêu cầu tôi sang tên.

    Đề nghị thế chấp.

    Dùng mẹ và họ hàng tạo tranh chấp.

    Khi mọi cách thất bại, anh chấp nhận ly hôn nhưng vẫn đòi chia phần tăng giá tài sản.

    Tôi hỏi:

    — Anh định làm gì nếu tòa xác định đây là tài sản riêng?

    Khải Văn không nói.

    Nhã Lệ đáp thay:

    — Anh ấy định cho người tạo bằng chứng rằng tiền tu sửa nhà trong hôn nhân đều từ công ty, rồi kiện đòi quyền lợi.

    Tôi nhìn anh.

    — Những hóa đơn sửa chữa giả?

    Anh nhắm mắt.

    — Tôi chưa dùng.

    — Vì tôi phát hiện trước.

    Cả căn hầm chìm vào im lặng.

    Bà Kim Phượng ngồi xuống chiếc rương.

    — Vậy… bây giờ Tống gia sẽ đòi tiền?

    Luật sư Trương đáp:

    — Có khả năng.

    — Còn công ty?

    — Đang bị kiểm tra.

    — Mười lăm căn hộ?

    — Đã thế chấp, có nguy cơ bị xử lý.

    Bà nhìn con trai.

    — Con đã làm gì vậy?

    Khải Văn bỗng cười.

    — Mọi người hỏi con đã làm gì? Ai là người suốt hai mươi năm nhắc cha chết vì nhà họ Thẩm? Ai nói con phải lấy lại căn nhà? Ai đưa từng người họ hàng vào sống để gây áp lực? Bây giờ tất cả đổ lên đầu con sao?

    Bà Kim Phượng run lên.

    — Mẹ chỉ muốn gia đình có chỗ ở.

    — Mẹ muốn chứng minh nhà họ Triệu không thua!

    — Con là con trưởng, con phải gánh!

    — Con đã gánh tới mức mất tất cả!

    Hai mẹ con nhìn nhau.

    Tôi không thấy hả hê.

    Chỉ thấy buồn.

    Một gia đình có thể dùng cùng một vết thương để nuôi lớn nhiều thế hệ oán hận.

    Người cha thất bại, đổ lỗi cho người ngăn mình làm sai.

    Người mẹ biến nỗi nhục thành mục tiêu sống của con.

    Người con bước vào cuộc hôn nhân bằng âm mưu, rồi dần không phân biệt nổi đâu là tình yêu, đâu là tính toán.

    Còn mười lăm người họ hàng sống dựa vào một lời hứa không có thật.

    Tôi thu lại hồ sơ.

    — Tất cả tài liệu trong hầm sẽ được niêm phong và giao cơ quan chức năng. Việc hiến tặng vẫn giữ nguyên.

    Bà Kim Phượng lập tức nói:

    — Khoan! Nếu Tống gia muốn mua khu nhà, viện dưỡng lão có thể bán sao?

    Đại diện viện dưỡng lão đáp:

    — Hợp đồng có điều khoản không được chuyển nhượng thương mại trong ba mươi năm. Khu nhà chỉ được dùng cho mục đích chăm sóc người cao tuổi và hoạt động cộng đồng.

    Tôi đã dự đoán điều này.

    Tôi không chỉ muốn rời khỏi căn nhà.

    Tôi muốn chấm dứt cuộc tranh giành kéo dài hai thế hệ.

    Một khi nó trở thành cơ sở xã hội, Tống gia không còn lý do mua.

    Nhà họ Triệu cũng không thể giành.

    Không ai có thể dùng nó làm công cụ.

    Khải Văn nhìn tôi.

    — Em biết dự án từ trước khi hiến tặng?

    — Tôi biết có người muốn mua, nhưng hôm nay mới biết toàn bộ lịch sử.

    — Vì vậy em thà cho người ngoài còn hơn để anh có một phần?

    — Không.

    Tôi nói:

    — Tôi hiến vì không muốn căn nhà tiếp tục biến người ta thành kẻ xấu.

    Anh cười chua chát.

    — Em nói như thể mình cao thượng.

    — Tôi không cao thượng. Tôi chỉ mệt.

    Tôi nhìn quanh căn hầm.

    — Cha mẹ để lại cho tôi một ngôi nhà. Nhưng mười hai năm qua, tôi không có một căn phòng thực sự thuộc về mình. Đi đâu cũng gặp đồ đạc của nhà anh. Mỗi bữa cơm đều phải nghe người khác tính ai sẽ nhận phòng nào sau khi tôi chết.

    Giọng tôi khẽ run.

    — Tôi từng nghĩ giữ được căn nhà là giữ được ký ức cha mẹ. Sau này tôi hiểu, ký ức không nằm trong quyền sở hữu.

    Tôi quay sang đại diện viện dưỡng lão.

    — Hãy giữ lại cây hòe và căn phòng của cha mẹ tôi. Những phần khác có thể sửa.

    Ông gật đầu.

    — Chúng tôi sẽ tôn trọng.

    Tôi bước lên cầu thang.

    Khải Văn gọi:

    — Nhược Lan.

    Tôi dừng lại.

    — Anh thật sự yêu em.

    Tôi không quay đầu.

    — Có thể.

    — Em không tin?

    — Tôi tin có lúc anh đã yêu.

    Anh bước lên một bậc.

    — Vậy tại sao không cho anh cơ hội?

    Tôi quay lại nhìn anh.

    — Vì tình yêu không xóa được việc anh giả chữ ký, lấy tiền, lừa dối và dùng cả gia đình ép tôi.

    — Anh có thể sửa.

    — Anh nên sửa cho chính mình, không phải để giữ tôi.

    — Em không còn chút tình cảm nào sao?

    Tôi im lặng rất lâu.

    — Còn.

    Mắt anh sáng lên.

    Tôi nói tiếp:

    — Nhưng tình cảm còn lại không đủ để tôi quay về nơi đã làm mình tổn thương.

    Tôi bước ra khỏi hầm.

    Trời đã tối.

    Trong sân, mười lăm người nhà họ Triệu vẫn chưa rời đi.

    Nhưng sự tức giận đã biến thành hoang mang.

    Không còn ai lớn tiếng đòi nhà.

    Họ bắt đầu gọi điện tìm chỗ ở.

    Người hỏi bạn bè.

    Người tính về quê.

    Người trách nhau đã không tiết kiệm.

    Bà Kim Phượng ngồi dưới gốc lựu, gương mặt già đi rất nhiều.

    Khi tôi đi ngang, bà hỏi:

    — Con thật sự muốn nhìn chúng ta tan rã sao?

    Tôi dừng lại.

    — Gia đình bà không tan vì tôi hiến nhà.

    — Vậy vì ai?

    — Vì mọi người đã sống quá lâu bằng thứ không thuộc về mình.

    Bà cúi đầu.

    Tôi rời khu nhà cổ lúc chín giờ tối.

    Chỉ mang theo một vali nhỏ.

    Trong đó có ảnh cha mẹ, vài bộ quần áo, ấm trà cũ của mẹ và cuốn sổ tay của cha.

    Khi xe đi qua con ngõ, tôi nhìn lại cánh cổng lần cuối.

    Khải Văn đứng dưới đèn lồng.

    Anh không đuổi theo.

    Có lẽ lần đầu tiên, anh hiểu cánh cửa ấy đã thật sự đóng.

    Nhưng sáng hôm sau, tôi nhận được tin khiến mọi việc đảo ngược.

    Tống Vĩ Dân nộp đơn tố cáo rằng hợp đồng hiến tặng có gian dối, bởi một phần khu nhà cổ không thuộc riêng tôi.

    Ông ta đưa ra một bản di chúc khác của cha tôi.

    Theo bản di chúc ấy, ba mươi phần trăm khu nhà phải được chuyển cho một người tên Thẩm Minh Châu.

    Tôi chưa từng nghe cái tên này.

    Nếu di chúc thật, hợp đồng hiến tặng có thể bị đình chỉ.

    Điều đáng sợ hơn là người giữ bản di chúc không phải Tống Vĩ Dân.

    Mà là bà Hà — người giúp việc đã chăm sóc tôi sau phẫu thuật, cũng là người được cha mẹ tôi tin tưởng nhất.

    Bà gọi cho tôi, chỉ nói:

    — Tiểu thư, cô phải về gặp tôi. Cha cô từng có một người con khác.


    CHƯƠNG 3 NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG CÓ TÊN TRONG GIA PHẢ

    Tôi gặp bà Hà tại một quán trà nhỏ gần Hàn Sơn Tự.

    Bà đã bảy mươi tuổi, tóc bạc gần hết, lưng hơi còng. Bà từng làm việc trong nhà tôi hơn ba mươi năm, từ khi tôi chưa sinh ra.

    Sau khi cha mẹ mất, tôi muốn bà ở lại khu nhà, nhưng mẹ chồng không thích.

    Bà Kim Phượng nói:

    — Người già làm việc chậm, giữ lại chỉ tốn thêm tiền.

    Bà Hà chủ động rời đi.

    Tôi vẫn gửi tiền hàng tháng, nhưng bà hiếm khi nhận.

    Hai năm trước, chính bà chăm tôi trong bệnh viện.

    Tôi luôn xem bà như người thân.

    Vì vậy, việc bà giữ một bản di chúc mà chưa từng nói khiến tôi vừa đau vừa hoang mang.

    Bà đặt một chiếc túi vải lên bàn.

    — Cô uống trà đi.

    — Cháu không uống nổi.

    — Tôi biết.

    — Minh Châu là ai?

    Bà Hà nhìn làn khói trà.

    — Chị gái cùng cha khác mẹ của cô.

    Tôi cảm thấy mọi âm thanh xung quanh biến mất.

    — Cha cháu chưa từng có con khác.

    — Có.

    — Không thể.

    — Trước khi cưới bà chủ, ông chủ từng yêu một người phụ nữ tên Liễu Thanh Cầm.

    Bà kể.

    Khi còn trẻ, cha tôi học nghề kinh doanh trà ở Vân Nam. Ông quen Thanh Cầm, một cô gái dân tộc Bạch làm trong xưởng trà.

    Hai người yêu nhau.

    Thanh Cầm mang thai.

    Nhưng gia đình cha phản đối vì đã hứa hôn ông với mẹ tôi từ nhỏ.

    Cha muốn hủy hôn.

    Ông nội tôi đe sẽ đuổi khỏi nhà và cắt quyền thừa kế.

    Cuối cùng, cha yếu đuối.

    Ông trở về Tô Châu, cưới mẹ tôi.

    Thanh Cầm sinh một con gái, đặt tên Minh Châu.

    — Cha cháu biết?

    — Biết.

    — Ông có chu cấp?

    — Có. Âm thầm suốt nhiều năm.

    Tôi nhớ những chuyến cha đi Vân Nam mua trà.

    Mẹ thường nói ông đi công việc.

    Có lẽ ông cũng tới thăm con gái.

    Tôi hỏi:

    — Mẹ cháu biết không?

    Bà Hà gật đầu.

    Tôi chết lặng.

    — Bà biết?

    — Biết từ trước khi cưới.

    — Vậy tại sao vẫn cưới?

    — Bà chủ cũng bị gia đình ép. Sau cưới, hai người dần có tình nghĩa. Nhưng chuyện Minh Châu luôn là vết thương trong nhà.

    — Chị ấy hiện ở đâu?

    — Không rõ.

    — Bà vừa nói không rõ, vậy di chúc giao nhà cho chị ấy bằng cách nào?

    Bà Hà lấy tài liệu.

    — Ông chủ lập hai bản di chúc.

    Bản tôi biết được lập tại văn phòng công chứng, để toàn bộ khu nhà cho tôi.

    Bản thứ hai là một văn bản bổ sung, ghi rằng nếu tìm được Minh Châu, cô ấy được hưởng ba mươi phần trăm giá trị khu nhà hoặc một khu sân riêng.

    — Tại sao không công chứng?

    — Minh Châu từ chối.

    — Chị ấy từng về?

    — Mười lăm năm trước.

    Bà Hà kể Minh Châu tới Tô Châu đúng thời điểm tôi và Khải Văn chuẩn bị cưới.

    Cô ấy không tới nhận tài sản.

    Chỉ muốn gặp cha.

    Hai cha con cãi nhau.

    Minh Châu nói:

    — Tôi không cần nhà. Tôi chỉ muốn ông công khai tôi là con.

    Cha tôi không dám.

    Ông sợ ảnh hưởng danh tiếng gia đình, sợ mẹ tổn thương, sợ tôi không chấp nhận.

    Minh Châu bỏ đi.

    Trước khi đi, cô đưa lại văn bản bổ sung cho bà Hà.

    — Tại sao bà giữ tới hôm nay?

    — Ông chủ dặn chỉ đưa ra nếu có người dùng khu nhà vào việc xấu hoặc nếu cô quyết định bán.

    — Cháu không bán. Cháu hiến tặng.

    — Tôi biết. Vì vậy tôi không định công bố.

    — Vậy tại sao Tống Vĩ Dân có bản sao?

    Bà Hà cúi đầu.

    — Khải Văn từng tìm tới tôi.

    Tôi lạnh người.

    — Khi nào?

    — Ba tháng trước.

    — Anh ta biết Minh Châu?

    — Cậu ấy tìm thấy thư trong hầm.

    — Anh ấy đã lấy tài liệu khác ngoài cuốn sổ kế toán.

    — Phải.

    Bà Hà nói Khải Văn tới hỏi bà về người thừa kế thứ hai.

    Bà không trả lời.

    Nhưng một tuần trước, nhà bà bị lục.

    Bản sao di chúc biến mất.

    Bà nghi người của Tống Vĩ Dân.

    Tôi siết tập giấy.

    — Văn bản này có giá trị pháp lý không?

    — Tôi không biết.

    Luật sư Trương sau khi xem nói:

    — Vì không công chứng và có điều kiện chưa rõ, giá trị có thể bị tranh chấp. Nhưng nếu chứng minh Minh Châu là con ruột, bà ấy vẫn có thể yêu cầu quyền thừa kế trong một số trường hợp, tùy thời hiệu và hoàn cảnh.

    — Hợp đồng hiến tặng?

    — Có thể bị tạm dừng để xác minh.

    Tôi hỏi bà Hà:

    — Bà biết cách tìm chị ấy không?

    Bà đưa tôi một địa chỉ cũ ở Đại Lý.

    — Đây là nơi Thanh Cầm từng sống. Tôi không chắc còn ai.

    Tôi quyết định đi ngay.

    Khải Văn biết tin và tìm tới nhà ga.

    Anh đứng chặn trước cửa toa.

    — Em đi tìm Minh Châu?

    — Anh tránh ra.

    — Anh có thể giúp.

    — Anh đã lấy thư trong hầm.

    — Anh chỉ muốn biết sự thật.

    — Sau đó đưa cho Tống Vĩ Dân?

    — Không.

    — Vậy bản sao từ đâu ra?

    — Anh không biết.

    — Anh còn muốn tôi tin câu đó?

    Khải Văn hạ giọng:

    — Nhược Lan, Tống Vĩ Dân đang muốn hủy hợp đồng hiến tặng để ép em bán. Nếu Minh Châu đứng về phía ông ta, em sẽ mất quyền kiểm soát.

    — Nếu chị ấy là người thừa kế hợp pháp, đó là quyền của chị ấy.

    — Em thật sự sẵn sàng mất ba mươi phần trăm?

    — Tôi từng sẵn sàng tặng toàn bộ.

    Anh im lặng.

    — Em không sợ chị ta lấy tiền rồi bán cho Tống gia?

    — Sợ.

    — Vậy tại sao còn đi tìm?

    — Vì chị ấy có quyền được biết mình không còn bị xóa khỏi gia đình.

    Khải Văn nhìn tôi, ánh mắt phức tạp.

    — Em luôn như vậy.

    — Như thế nào?

    — Thà mất còn hơn giữ một thứ không hoàn toàn thuộc về mình.

    — Còn anh thì ngược lại.

    Tôi bước lên tàu.

    Trước khi cửa đóng, anh nói:

    — Anh sẽ tìm bằng chứng Tống Vĩ Dân lấy di chúc thế nào.

    — Anh làm để cứu mình, không phải giúp tôi.

    — Có thể cả hai.

    Tôi không đáp.

    Chuyến tàu tới Côn Minh rồi tiếp tục tới Đại Lý.

    Tôi đi cùng luật sư Trương và bà Hà.

    Địa chỉ cũ là một căn nhà nhỏ nằm gần hồ Nhĩ Hải, nhưng chủ mới nói gia đình Thanh Cầm đã rời đi hơn mười năm.

    Một người hàng xóm già nhớ Minh Châu.

    — Con bé làm bác sĩ.

    — Ở đâu?

    — Sau này chuyển tới Tứ Xuyên, rồi nghe nói làm cho một viện dưỡng lão.

    Tôi sững lại.

    — Viện dưỡng lão nào?

    Bà lão không nhớ tên, chỉ nói người sáng lập từng cứu trợ sau trận động đất.

    Luật sư Trương tìm kiếm danh sách các cơ sở có giám đốc tên Minh Châu.

    Có bốn người phù hợp.

    Người thứ ba là Thẩm Minh Châu, giám đốc chuyên môn của Viện dưỡng lão Từ An tại Tô Châu.

    Chính cơ sở tôi vừa hiến khu nhà.

    Tôi nhìn màn hình không tin nổi.

    Minh Châu đã ở Tô Châu.

    Có lẽ bà ấy biết tôi từ đầu.

    Chúng tôi lập tức quay về.

    Tại Viện dưỡng lão Từ An, người tiếp tôi là một phụ nữ ngoài năm mươi tuổi, tóc cắt ngắn, mặc áo sơ mi xanh nhạt và áo khoác trắng.

    Gương mặt bà có vài nét giống cha.

    Đặc biệt là đôi mắt.

    Tôi vừa nhìn đã biết.

    Bà mời chúng tôi vào phòng.

    Trên bàn có bức ảnh Thanh Cầm thời trẻ.

    Tôi hỏi:

    — Bà là Thẩm Minh Châu?

    — Phải.

    — Bà biết tôi là ai?

    — Biết.

    — Từ khi nào?

    — Từ trước khi cô liên hệ hiến tặng.

    Tôi nắm chặt tay.

    — Vậy bà tiếp nhận căn nhà vì biết nó có phần của bà?

    — Không.

    — Tại sao không nói?

    — Vì tôi đã từ chối tài sản đó mười lăm năm trước.

    — Nhưng bà vẫn là con của cha tôi.

    Minh Châu nhìn tôi.

    — Ông ấy cũng là cha tôi, nhưng chưa từng công khai điều đó.

    — Cháu không biết.

    — Tôi không trách cô.

    — Bà có quyền trách.

    — Cô khi ấy còn trẻ.

    Tôi lấy văn bản bổ sung.

    — Bà từng ký từ chối?

    Bà lấy từ ngăn kéo một giấy tờ.

    Đó là tuyên bố từ chối quyền hưởng phần tài sản, được công chứng tại Vân Nam mười lăm năm trước.

    — Tôi đã gửi cho cha cô. Có lẽ ông ấy không để cùng hồ sơ chính.

    Luật sư xem kỹ.

    — Văn bản này có hiệu lực nếu xác định đúng tài sản và không có thay đổi sau đó.

    Minh Châu nói:

    — Tôi không muốn căn nhà.

    — Vì giận cha?

    — Ban đầu.

    — Sau đó?

    Bà nhìn ra cửa sổ.

    — Tôi làm trong ngành chăm sóc người cao tuổi hơn hai mươi năm. Tôi thấy quá nhiều người có nhà lớn nhưng cuối đời không ai chăm, cũng thấy người không có tài sản lại được người xa lạ đối xử tử tế. Tôi hiểu một căn nhà không chứng minh được ai là gia đình.

    Câu nói giống điều cha từng nói.

    Tôi hỏi:

    — Tại sao bà đồng ý nhận hiến tặng mà không nói thân phận?

    — Vì hội đồng của viện đánh giá độc lập. Tôi rút khỏi cuộc bỏ phiếu.

    — Bà không định bước vào khu nhà sao?

    — Tôi từng bước vào một lần, mười lăm năm trước. Đủ rồi.

    — Bà có muốn tên mình được ghi trong gia phả?

    Minh Châu cười buồn.

    — Người đã mất không thể sửa cách họ sống. Tôi không cần một cuốn gia phả để biết mình là ai.

    Tôi thấy mắt cay lên.

    — Nhưng cháu muốn biết.

    Bà nhìn tôi.

    — Biết điều gì?

    — Biết cháu có một người chị.

    Căn phòng im lặng.

    Minh Châu quay mặt đi.

    — Cô không cần vì tội lỗi mà nhận tôi.

    — Không phải tội lỗi.

    — Cô mới gặp tôi.

    — Nhưng chúng ta có thể bắt đầu từ việc đó.

    Bà không trả lời ngay.

    Một lúc sau, bà nói:

    — Cô giống mẹ mình hơn cha.

    — Bà từng gặp mẹ cháu?

    — Có.

    — Bà nói gì với bà ấy?

    — Tôi hỏi tại sao biết cha tôi có con mà vẫn cưới.

    — Mẹ trả lời sao?

    Minh Châu nhìn tôi.

    — Bà nói: “Tôi không cướp ông ấy. Tôi cũng bị đưa vào một cuộc hôn nhân không do mình chọn. Nhưng tôi sẽ không cản cô tìm cha.”

    — Vậy sao bà không trở về sớm hơn?

    — Vì tôi thấy ông ấy luôn sợ.

    — Sợ gì?

    — Sợ mất danh tiếng, mất gia đình, mất sự tôn trọng.

    Bà cười nhạt.

    — Tôi không muốn dành đời mình chờ một người cha đủ can đảm.

    Tôi hiểu.

    Cha là người tốt trong rất nhiều chuyện.

    Ông bảo vệ cư dân khỏi dự án gian dối.

    Ông để tôi tự lựa chọn hôn nhân.

    Ông chuẩn bị tài liệu bảo vệ tôi.

    Nhưng trong câu chuyện của Minh Châu, ông vẫn là người cha đã không dám nhận con.

    Một người có thể tốt với xã hội nhưng yếu đuối với gia đình.

    Sự thật không cần biến người đã mất thành hoàn hảo.

    Luật sư Trương nói:

    — Với giấy từ chối này, yêu cầu đình chỉ hợp đồng hiến tặng của Tống Vĩ Dân thiếu căn cứ.

    Minh Châu bổ sung:

    — Tôi cũng đã ký xác nhận không tranh chấp và ủng hộ mục đích sử dụng xã hội.

    Tôi nhìn bà.

    — Bà đã chuẩn bị từ trước?

    — Khi biết cô muốn hiến nhà, tôi đoán có người sẽ dùng tên tôi gây rắc rối.

    — Ai báo cho bà?

    — Khải Văn.

    Tôi sững lại.

    — Anh ấy tìm bà?

    — Hai tháng trước.

    — Để thuyết phục bà tranh tài sản?

    — Ban đầu, phải.

    Minh Châu kể Khải Văn mang bản sao văn bản bổ sung tới.

    Anh nói nếu bà khởi kiện, có thể lấy ba mươi phần trăm khu nhà.

    Tống Vĩ Dân sẽ mua lại với giá rất cao.

    Bà từ chối.

    Sau đó Khải Văn gặp lại lần nữa, lần này xin bà ký xác nhận từ chối để bảo vệ hợp đồng hiến tặng.

    — Tại sao anh ấy đổi ý?

    — Tôi hỏi cậu ta một câu.

    — Câu gì?

    — “Cậu muốn căn nhà hay muốn còn cơ hội nhìn thẳng vào người vợ cũ?”

    Tôi im lặng.

    — Anh ấy trả lời sao?

    — Không trả lời. Nhưng hôm sau mang luật sư tới làm giấy.

    Tôi không biết nên cảm thấy thế nào.

    Khải Văn đã làm quá nhiều chuyện sai.

    Một hành động đúng ở phút cuối không xóa được chúng.

    Nhưng nó vẫn là hành động đúng.

    Chiều hôm đó, chúng tôi tổ chức họp báo nhỏ tại viện dưỡng lão.

    Minh Châu công khai văn bản từ chối thừa kế.

    Tôi xác nhận tiếp tục hiến tặng.

    Luật sư thông báo mọi tranh chấp sẽ xử lý theo pháp luật.

    Dự án khu nghỉ dưỡng của Tống Vĩ Dân bị điều tra vì có dấu hiệu dùng tài liệu bất hợp pháp và thao túng chuyển nhượng.

    Khải Văn giao nộp hợp đồng, thư từ và bản ghi âm liên quan.

    Đổi lại, không ai hứa anh được miễn trách nhiệm.

    Anh vẫn phải đối diện cáo buộc giả chữ ký, chiếm dụng tiền công ty và gian lận tài chính.

    Một tuần sau, tôi tới gặp anh tại văn phòng luật sư.

    Anh gầy đi nhiều.

    Không còn áo vest đắt tiền.

    Chỉ mặc sơ mi xám.

    — Minh Châu nói anh giúp bà ký giấy.

    — Ừ.

    — Tại sao?

    — Vì anh biết mình không còn lấy được căn nhà.

    — Chỉ vậy?

    Anh cười.

    — Em vẫn luôn nhìn rõ anh.

    — Tôi đang hỏi thật.

    Khải Văn im lặng.

    — Khi gặp chị ấy, anh thấy một người bị cha em bỏ rơi nhưng không hề muốn trả thù bằng tài sản. Anh chợt hiểu nhà anh đã dùng căn nhà làm lý do sống quá lâu.

    — Anh hiểu muộn.

    — Anh biết.

    — Anh còn giấu gì không?

    — Có.

    Anh đưa tôi một chiếc chìa khóa.

    — Két công ty. Trong đó còn tiền mặt và chứng từ. Không đủ trả hết nợ, nhưng đủ trả một phần lương nhân viên.

    — Tại sao đưa tôi?

    — Em không còn trách nhiệm.

    — Vậy nên đưa cơ quan điều tra.

    — Anh đã báo. Đây là bản sao danh mục.

    Tôi nhận.

    Anh hỏi:

    — Mười lăm người nhà anh thế nào?

    — Tôi không biết.

    — Họ đã rời khu nhà.

    — Tất cả?

    — Mẹ anh tới ở với em trai. Chị gái thuê căn hộ nhỏ. Những người họ hàng khác về quê hoặc tự tìm chỗ.

    — Họ có trách anh không?

    — Có.

    — Em có thấy đáng đời không?

    Tôi suy nghĩ.

    — Không.

    Anh nhìn tôi.

    — Tại sao?

    — Vì tôi không muốn dành phần đời còn lại để chờ anh gặp chuyện.

    Khải Văn cúi đầu.

    — Anh từng nghĩ nếu có khu nhà, gia đình sẽ tôn trọng anh.

    — Họ tôn trọng lời hứa về tài sản, không phải anh.

    — Anh biết rồi.

    — Nhã Lệ và con bé?

    — Cô ấy hợp tác điều tra. Số nợ có thể được xem xét vì cô ấy chứng minh bị lừa ký. Con bé ở với mẹ.

    — Anh có gặp?

    — Một lần.

    — Nó còn gọi anh là cha?

    Anh gật đầu, mắt đỏ lên.

    — Nó hỏi tại sao cha không về nhà.

    — Anh trả lời sao?

    — Anh nói cha đã làm sai và phải sửa.

    Tôi im lặng.

    Khải Văn nhìn tôi.

    — Nếu ngày xưa anh nói thật về cha mình, em có cưới anh không?

    — Có thể không.

    — Vậy anh càng không thể nói.

    — Chính vì anh sợ mất nên anh chưa từng cho tôi quyền lựa chọn.

    — Giống cha em với Minh Châu.

    Tôi khựng lại.

    Anh nói:

    — Người lớn luôn nghĩ giấu là bảo vệ.

    — Anh không giấu để bảo vệ tôi.

    — Ban đầu không. Sau đó có lúc anh muốn.

    — Nhưng vẫn tiếp tục dùng tôi.

    — Ừ.

    Sự thừa nhận không còn biện minh khiến cuộc nói chuyện bớt nặng nề, nhưng không thể đưa chúng tôi trở lại.

    Anh hỏi:

    — Em có ghét mười hai năm sống với anh không?

    — Không phải tất cả.

    — Có lúc nào em hạnh phúc?

    — Có.

    Mắt anh đỏ hơn.

    — Vậy là đủ.

    — Không.

    Tôi nhìn anh.

    — Những ngày tốt không biện minh cho những ngày anh phản bội. Nhưng những ngày xấu cũng không cần xóa hết ký ức tốt. Chúng ta từng yêu. Sau đó anh lựa chọn sai quá nhiều lần.

    Anh gật đầu.

    — Anh hiểu.

    — Tôi mong anh chịu trách nhiệm.

    — Còn sau đó?

    — Sau đó sống cuộc đời của anh.

    — Không có em?

    — Không có tôi.

    Anh nhắm mắt.

    Một lúc lâu, anh nói:

    — Được.

    Khi tôi đứng dậy, anh gọi:

    — Nhược Lan.

    Tôi quay lại.

    — Cảm ơn em đã không biến anh thành quái vật hoàn toàn trong ký ức.

    Tôi đáp:

    — Anh trở thành người thế nào từ hôm nay là việc của anh.

    Tôi rời đi.

    Sáu tháng sau, khu nhà cổ bắt đầu sửa chữa.

    Sân thứ nhất được cải tạo thành khu sinh hoạt chung.

    Sân thứ hai thành phòng ở cho người cao tuổi.

    Sân sau giữ lại cây hòe, căn hầm và phòng cha mẹ.

    Căn hầm trở thành phòng trưng bày lịch sử khu phố, bao gồm cả vụ công ty Minh Triệu từng cố thâu tóm nhà dân.

    Tên cha tôi được ghi như người bảo vệ di sản.

    Nhưng theo đề nghị của Minh Châu, một phần khác cũng được ghi:

    “Thẩm Đức Xương từng có một người con gái tên Thẩm Minh Châu. Vì sự yếu đuối và định kiến của thời đại, ông đã không công khai con khi còn sống.”

    Tôi từng lo dòng đó làm xấu hình ảnh cha.

    Sau cùng, tôi đồng ý.

    Tôn trọng người đã mất không có nghĩa che giấu sai lầm của họ.

    Ngày viện dưỡng lão mở cửa, hơn ba mươi cụ già chuyển tới.

    Có người không con.

    Có người có con nhưng không được chăm sóc.

    Có người từng ngủ ở ga tàu.

    Bà Kim Phượng đứng ngoài cổng rất lâu.

    Tôi nhận ra bà nhưng không bước ra trước.

    Minh Châu đi cùng tôi.

    Bà Kim Phượng thấy chúng tôi, nét mặt xấu hổ.

    — Tôi có thể vào xem không?

    Tôi đáp:

    — Đây là cơ sở cộng đồng. Bà có thể đăng ký tham quan.

    Bà nhìn những cụ già đang uống trà trong sân.

    — Họ sống ở phòng của chúng tôi sao?

    — Trước đây đó là phòng của cha mẹ tôi.

    Bà cúi đầu.

    — Tôi đã quên.

    Một lúc sau, bà nói:

    — Khải Văn bị kết án ba năm.

    Tôi đã biết.

    Vì chủ động giao nộp tài liệu, bồi thường một phần và hợp tác điều tra, anh không chịu mức nặng hơn.

    — Tôi sẽ tới thăm nó.

    — Bà nên đi.

    — Nó hỏi cô có tới không.

    — Không.

    Bà gật đầu, như đã đoán.

    — Tôi từng hận cô vì lấy mất nhà.

    — Bây giờ?

    — Tôi thuê một căn hộ hai phòng cùng vợ chồng con trai út. Không rộng, nhưng tháng nào cũng phải góp tiền. Ban đầu tôi thấy tủi.

    Bà nhìn những người trong sân.

    — Sau này tôi hiểu, căn nhà cũ rộng vì không phải chúng tôi trả giá.

    Tôi không nói.

    Bà lấy từ túi ra chuỗi ngọc trai.

    — Cái này cô tặng. Tôi muốn trả.

    — Bà giữ đi.

    — Tôi không xứng.

    — Quà đã tặng không cần lấy lại.

    Bà nhìn tôi.

    — Cô không hận tôi sao?

    — Có lúc hận.

    — Còn bây giờ?

    — Tôi không muốn mang bà theo trong cuộc sống mới.

    Bà rơi nước mắt.

    — Tôi xin lỗi.

    Tôi không nói tha thứ.

    Chỉ gật đầu.

    Có những lời xin lỗi không cần lập tức được tha thứ để trở nên có ý nghĩa.

    Bà Kim Phượng rời đi.

    Minh Châu hỏi:

    — Cô thấy nhẹ không?

    — Một chút.

    — Cô còn gọi tôi là bà sao?

    Tôi cười.

    — Chị muốn tôi gọi gì?

    Bà khựng lại.

    Tôi nói:

    — Chị.

    Mắt Minh Châu đỏ lên.

    — Tôi hơn cô gần hai mươi tuổi.

    — Vẫn là chị.

    Bà quay mặt đi, giả vờ nhìn cây hòe.

    Từ đó, chúng tôi bắt đầu một mối quan hệ không dễ gọi tên.

    Không thể bù lại những năm đã mất.

    Không thể giả vờ lớn lên cùng nhau.

    Nhưng có thể uống trà.

    Có thể tranh luận về cách sửa căn nhà.

    Có thể cùng tới thăm mộ cha.

    Ngày giỗ đầu tiên sau khi biết sự thật, Minh Châu đứng trước mộ rất lâu.

    Bà nói:

    — Cha, con không còn chờ cha nhận nữa.

    Tôi đặt hoa bên cạnh.

    — Con cũng không còn cố bảo vệ hình ảnh hoàn hảo của cha.

    Gió thổi qua hàng cây.

    Không có câu trả lời.

    Nhưng lần đầu tiên, hai người con gái của ông cùng đứng một chỗ.

    Một năm sau, viện dưỡng lão hoạt động ổn định.

    Tôi chuyển tới một căn hộ nhỏ gần kênh.

    Chỉ có hai phòng.

    Tôi tự trả điện nước.

    Tự nấu ăn.

    Tự quyết định ai được bước vào.

    Nhiều người hỏi tôi có tiếc khu nhà sáu mươi triệu không.

    Tôi thường trả lời:

    — Tôi tiếc những năm mình sống trong nhà mà không dám đóng cửa phòng.

    Còn tài sản, khi được dùng đúng cách, không phải mất đi.

    Nó chỉ đổi người được hưởng.

    Một buổi chiều, tôi tới viện.

    Trong sân, một cụ bà đang dạy những người khác gấp hoa giấy. Một cụ ông ngồi dưới cây lựu đánh cờ.

    Căn phòng từng bị chị chồng chiếm làm kho quần áo giờ là phòng đọc sách.

    Phòng của em trai chồng cũ trở thành phòng vật lý trị liệu.

    Sân nơi bà Kim Phượng từng bày mười bàn tiệc sinh nhật giờ có những cụ già tập thái cực quyền.

    Tôi đi tới sân sau.

    Tấm biển mới treo cạnh cây hòe:

    “Ngôi nhà này thuộc về những người cần một nơi được gọi là nhà.”

    Minh Châu đứng bên cạnh.

    — Ai viết câu này?

    — Tôi.

    — Nghe hơi sến.

    — Vậy cô viết câu khác.

    Tôi bật cười.

    — Giữ đi.

    Chị đưa tôi một phong bì.

    — Khải Văn gửi.

    — Từ đâu?

    — Sau khi ra khỏi trại cải tạo.

    Tôi không mở ngay.

    — Anh ấy đã ra?

    — Một tuần trước.

    — Chị gặp?

    — Cậu ấy tới viện xin việc.

    Tôi kinh ngạc.

    — Làm gì?

    — Phụ bếp.

    — Chị nhận?

    — Hội đồng đánh giá. Cậu ấy có kinh nghiệm, chấp nhận mức lương bình thường và không phụ trách tài chính.

    Tôi không biết nên phản ứng ra sao.

    — Chị không sợ tôi khó chịu?

    — Đây là nơi dành cho người cần bắt đầu lại. Nếu từ chối chỉ vì cậu ấy từng là chồng cô, chúng ta cũng đang biến chuyện riêng thành tiêu chuẩn.

    Tôi im lặng.

    Chị nói đúng.

    — Anh ấy biết tôi thường tới đây?

    — Biết. Nói sẽ tránh những ngày cô tới.

    Tôi mở thư.

    Chỉ có vài dòng:

    “Nhược Lan,

    Anh không xin em quay lại.

    Anh cũng không xin em tha thứ.

    Anh chỉ muốn báo rằng anh đã bắt đầu trả những khoản còn thiếu và sẽ tiếp tục cho đến khi không còn khả năng.

    Mẹ sống ổn.

    Nhã Lệ đã đưa con gái tới gặp anh. Con bé vẫn gọi anh là cha, nhưng anh hiểu làm cha không chỉ là một tiếng gọi.

    Anh xin làm tại viện vì muốn tự tay chăm sóc nơi từng là thứ anh muốn chiếm lấy.

    Em không cần gặp anh.

    Chúc em bình an.

    Khải Văn.”

    Tôi gấp thư.

    Minh Châu hỏi:

    — Cô có muốn gặp không?

    — Không.

    — Vì còn giận?

    — Vì không cần.

    Chị gật đầu.

    Từ xa, tôi nhìn thấy một người đàn ông mặc tạp dề xám đang đẩy xe thức ăn qua hành lang.

    Dáng đi quen thuộc.

    Khải Văn.

    Anh cũng nhìn thấy tôi.

    Chúng tôi đứng cách nhau hai sân.

    Anh không bước tới.

    Chỉ cúi đầu rất nhẹ.

    Tôi đáp lại bằng một cái gật đầu.

    Rồi quay đi.

    Đó là lần cuối chúng tôi nhìn nhau với tư cách hai người từng là vợ chồng.

    Không oán trách.

    Không níu kéo.

    Không cần khép lại bằng một câu nói lớn lao.

    Ngày tôi hoàn tất ly hôn, đem toàn bộ khu nhà cổ tặng viện dưỡng lão, mẹ chồng cũ kéo mười lăm người tới chặn cửa.

    Bà hét hỏi:

    “Mười lăm người nhà tao sẽ ở đâu?”

    Khi ấy tôi trả lời:

    “Hãy về ở trong mười lăm căn nhà con trai bà đã hứa, còn nếu chúng không tồn tại trong tay các người, thì căn nhà cổ này càng chưa bao giờ thuộc về nhà họ Triệu.”

    Câu ấy khiến bà khuỵu xuống.

    Nhưng sau nhiều năm, tôi hiểu điều khiến bà thật sự đứng không vững không phải việc mất chỗ ở.

    Mà là khoảnh khắc bà nhận ra cả gia đình đã xây cuộc sống trên một lời hứa chưa từng thuộc về mình.

    Khải Văn hứa nhà để được tôn trọng.

    Họ hàng tin lời hứa để khỏi tự lập.

    Mẹ chồng dùng oán hận để điều khiển con.

    Tôi dùng nhẫn nhịn để giữ một cuộc hôn nhân đã rỗng.

    Cha tôi dùng im lặng để che một người con gái.

    Mỗi người đều giữ một ảo tưởng vì sợ đối diện sự thật.

    Căn nhà cổ cuối cùng không thuộc về tôi.

    Không thuộc về Khải Văn.

    Không thuộc về Minh Châu.

    Nó thuộc về những người đang sống trong đó, uống trà dưới cây hòe, ngủ bình yên sau những năm không có nơi nương tựa.

    Còn tôi mang theo thứ cha mẹ thật sự để lại.

    Không phải tường gạch.

    Không phải giá trị hàng chục triệu.

    Mà là quyền lựa chọn mình sẽ dùng cuộc đời và tài sản để trở thành người thế nào.

    Tôi đã từng mất mười hai năm mới hiểu:

    Một ngôi nhà không nên là phần thưởng cho lòng tham.

    Không nên là sợi dây trói buộc một cuộc hôn nhân.

    Không nên là công cụ để thế hệ sau trả thù cho thất bại của thế hệ trước.

    Nhà phải là nơi con người được tôn trọng.

    Và khi một nơi không còn cho mình cảm giác ấy, rời đi không phải vô tình.

    Có khi, đó là lần đầu tiên mình thật sự trở về với chính mình.

    HẾT

  • CƯỚI XONG CÔ PHẢI NGHỈ VIỆC Ở NHÀ CHĂM BỐ MẸ CHỒNG, CĂN HỘ CỦA CÔ CŨNG PHẢI GIAO CHO EM TRAI NÓ Ở MIỄN PHÍ! – CHỊ CHỒNG TƯƠNG LAI NÓI NHƯ RA LỆNH GIỮA BUỔI RA MẮT HỌ HÀNG. TÔI KHÔNG TRANH CÃI, CHỈ MỈM CƯỜI KÝ VÀO MỘT TỜ GIẤY RỒI NHẮN ĐÚNG MỘT DÒNG…

    CƯỚI XONG CÔ PHẢI NGHỈ VIỆC Ở NHÀ CHĂM BỐ MẸ CHỒNG, CĂN HỘ CỦA CÔ CŨNG PHẢI GIAO CHO EM TRAI NÓ Ở MIỄN PHÍ! – CHỊ CHỒNG TƯƠNG LAI NÓI NHƯ RA LỆNH GIỮA BUỔI RA MẮT HỌ HÀNG. TÔI KHÔNG TRANH CÃI, CHỈ MỈM CƯỜI KÝ VÀO MỘT TỜ GIẤY RỒI NHẮN ĐÚNG MỘT DÒNG…

    #Truyệnngắn #Hưcấu #Sángtác Nội dung truyện ngắn trên chỉ mang tính giải trí, hư cấu.

    CHƯƠNG 1 TỜ GIẤY ĐƯỢC KÝ GIỮA BỮA TIỆC RA MẮT

    “Cưới xong, cô phải nghỉ việc ở nhà chăm bố mẹ chồng. Còn căn hộ của cô ở Vân Đình, cứ để cho Minh Hạo chuyển vào ở miễn phí. Nó là em trai duy nhất của Kiến Thành, sau này hai anh em còn phải nương tựa nhau!”

    Giọng của Tống Mỹ Lan vang lên giữa phòng tiệc, sắc lạnh và dứt khoát như thể bà ta đang công bố một quyết định đã được cả gia đình thông qua, chứ không phải bàn bạc về tài sản và tương lai của người khác.

    Hơn ba mươi người họ hàng nhà họ Tống đồng loạt im tiếng.

    Đũa của vài người dừng giữa không trung.

    Chiếc thìa sứ trong tay bà nội Kiến Thành khẽ va vào miệng bát, tạo ra một tiếng “keng” rất nhỏ nhưng đủ khiến bầu không khí trong căn phòng riêng của nhà hàng trở nên nặng nề.

    Người vừa nói không phải mẹ chồng tương lai của tôi.

    Đó là Tống Mỹ Lan, chị gái của vị hôn phu tôi.

    Chị ta hơn tôi bảy tuổi, đã lấy chồng nhưng hầu như ngày nào cũng có mặt ở nhà mẹ đẻ. Từ chuyện mua loại dầu ăn nào, thay rèm phòng khách ra sao, cho đến tiền lương của em trai và cách bố mẹ sử dụng tiền tiết kiệm, chị ta đều muốn can dự.

    Tôi ngồi bên cạnh Kiến Thành, hai bàn tay đặt ngay ngắn trên đầu gối.

    Trước mặt tôi là một bàn đầy thức ăn: cá hấp hình sóc, thịt Đông Pha, tôm xào trà Long Tỉnh, canh củ sen hầm sườn và những đĩa điểm tâm tinh xảo.

    Nhưng không ai còn tâm trạng ăn uống.

    Tống Mỹ Lan tựa lưng vào ghế, cằm hơi nâng lên.

    “Cô đừng nhìn tôi như vậy. Tôi nói đều là vì tương lai của cô và Kiến Thành.”

    Tôi khẽ hỏi:

    “Chị nói tôi phải nghỉ việc?”

    “Đúng.”

    “Và giao căn hộ của tôi cho Minh Hạo ở miễn phí?”

    “Không phải giao.” Chị ta nhíu mày, sửa lại. “Chỉ là để người trong nhà sử dụng. Minh Hạo sắp cưới, hai đứa nó cần chỗ ở. Cô có căn hộ ba phòng ngủ, để không cũng phí.”

    Tôi quay sang nhìn người đàn ông ngồi bên cạnh.

    Tống Kiến Thành cúi xuống, dùng đầu đũa gẩy một miếng cà rốt trong bát. Anh không nhìn tôi.

    Tôi chờ vài giây rồi hỏi:

    “Kiến Thành, anh cũng nghĩ như vậy sao?”

    Bờ vai anh cứng lại.

    Mẹ anh, bà Trương Thục Phân, vội vàng chen vào:

    “Thanh Nghi à, Mỹ Lan nói hơi thẳng nhưng không sai. Con gái lấy chồng rồi thì phải đặt gia đình lên trên sự nghiệp. Công việc của con bận như thế, hôm thì họp đến tối, hôm lại đi công tác. Sau này ai chăm sóc bố mẹ? Ai lo cơm nước trong nhà?”

    Tôi nhìn bà.

    “Bác gái vẫn khỏe mạnh, bác trai cũng chưa nghỉ hưu. Hơn nữa, trước đây bác từng nói sau khi kết hôn chúng cháu sẽ sống riêng.”

    Nụ cười trên mặt bà Thục Phân cứng lại.

    “Lúc trước là lúc trước. Gia đình phải tùy hoàn cảnh mà điều chỉnh.”

    Bố Kiến Thành, ông Tống Quốc Lâm, đặt chén trà xuống.

    “Thanh Nghi, nhà chúng ta không phải gia đình cổ hủ. Chúng ta không phản đối phụ nữ đi làm. Nhưng công việc của cháu quá nhiều áp lực, thường xuyên tiếp xúc với khách hàng, không thích hợp để chăm sóc gia đình.”

    Tôi hỏi:

    “Vậy tại sao từ lúc quen nhau đến nay, chưa ai từng nói với cháu điều này?”

    Ông Tống Quốc Lâm ho khan.

    “Vì bây giờ sắp cưới rồi nên mới cần nói rõ.”

    Tống Mỹ Lan lập tức tiếp lời:

    “Đúng thế. Chưa cưới thì cô sống thế nào là chuyện của cô. Nhưng một khi bước vào nhà họ Tống, mọi thứ phải theo quy củ của nhà họ Tống.”

    Một người cô ngồi phía đối diện bật cười:

    “Mỹ Lan nói đúng. Con dâu mới về nhà phải biết điều. Mà Thanh Nghi có điều kiện tốt như vậy, giúp đỡ em chồng một chút thì có mất gì đâu.”

    Người khác gật đầu:

    “Anh em trong nhà không nên tính toán.”

    “Căn hộ để trống thì cho người nhà ở là hợp lý.”

    “Minh Hạo sắp cưới rồi, tiền đâu mà mua nhà ở Hàng Châu?”

    “Chị dâu có nhà sẵn mà còn để em chồng đi thuê thì người ngoài nghe được cũng không hay.”

    Từng câu, từng câu một rơi xuống.

    Họ nói về căn hộ của tôi như thể đó là một món đồ chung của gia đình họ Tống.

    Không ai hỏi tôi đã mua nó bằng cách nào.

    Không ai biết những năm đầu khi mới tới Hàng Châu, tôi từng ở trong một căn phòng trọ rộng chưa đến mười mét vuông. Mùa đông, nước nóng chập chờn. Mùa hè, tiếng xe ngoài đường làm tôi mất ngủ cả đêm.

    Không ai biết tôi đã làm thêm bao nhiêu dự án, từ bỏ bao nhiêu kỳ nghỉ, chịu đựng bao nhiêu lần bị khách hàng gây khó dễ để có thể trả hết khoản vay sớm.

    Cũng không ai biết căn hộ Vân Đình không hề “để không”.

    Nó là tài sản đầu tiên tôi mua cho chính mình.

    Là nơi tôi từng nghĩ sẽ trở thành tổ ấm sau khi kết hôn.

    Vậy mà hôm nay, giữa bữa tiệc ra mắt họ hàng, nó lại bị người khác phân chia bằng vài câu nói nhẹ tênh.

    Tôi không nổi giận.

    Tôi chỉ thấy lòng mình lạnh dần.

    Tôi quay sang Kiến Thành một lần nữa.

    “Anh không có gì muốn nói sao?”

    Anh mím môi.

    “Mỹ Lan chỉ muốn giúp Minh Hạo vượt qua giai đoạn khó khăn.”

    “Còn chuyện em nghỉ việc?”

    “Bố mẹ lớn tuổi rồi.”

    “Bác trai năm nay mới năm mươi chín tuổi. Bác gái năm mươi sáu tuổi.”

    “Không phải cứ đến bảy mươi mới cần con cái chăm sóc.”

    Tôi nhìn anh thật lâu.

    Người đàn ông trước mặt tôi từng nói anh tôn trọng sự nghiệp của tôi.

    Anh từng đứng bên bờ Tây Hồ, nắm tay tôi và hứa rằng sau khi kết hôn, hai chúng tôi sẽ sống độc lập, cùng chia sẻ việc nhà, không để bất cứ ai can thiệp vào cuộc sống riêng.

    Khi ấy, ánh mắt anh chân thành đến mức tôi đã tin.

    Tôi không ngờ lời hứa của một người có thể thay đổi ngay khi anh ta tin rằng hôn lễ đã được ấn định và người phụ nữ bên cạnh sẽ không còn đường lui.

    Tống Mỹ Lan thấy tôi im lặng liền tưởng tôi đã dao động.

    Chị ta đẩy một tập giấy đặt bên cạnh sang trước mặt tôi.

    “Đây là thỏa thuận gia đình tôi đã chuẩn bị. Cô đọc rồi ký đi.”

    Mọi ánh mắt trong phòng lập tức đổ dồn về tập giấy.

    Tôi không đưa tay nhận ngay.

    “Thỏa thuận gì?”

    “Chỉ là vài nguyên tắc sau hôn nhân.” Tống Mỹ Lan đáp. “Một là cô nghỉ việc trong vòng một tháng sau lễ cưới. Hai là căn hộ Vân Đình cho Minh Hạo và vợ sắp cưới sử dụng vô thời hạn. Ba là tiền tiết kiệm của hai vợ chồng sẽ do mẹ quản lý. Bốn là những khoản chi trên năm nghìn nhân dân tệ phải được bố mẹ đồng ý.”

    Tôi bật cười.

    Không phải nụ cười vui vẻ.

    Đó là phản ứng tự nhiên của một người khi nghe thấy điều quá vô lý.

    “Chị viết?”

    “Cả nhà cùng bàn.”

    “Kiến Thành cũng tham gia?”

    Không ai trả lời ngay.

    Nhưng sự im lặng đã nói thay tất cả.

    Tôi quay sang anh.

    “Anh biết về tờ giấy này?”

    Kiến Thành tránh ánh mắt tôi.

    “Anh chỉ nghĩ nên thống nhất trước để sau này đỡ mâu thuẫn.”

    “Vậy căn hộ của anh thì sao?”

    Anh khựng lại.

    “Căn hộ nào?”

    “Căn hộ nhỏ anh đang đứng tên ở khu Cảnh Hà. Sau khi cưới, có giao cho gia đình em sử dụng không?”

    Tống Mỹ Lan lập tức đập tay xuống bàn.

    “Sao cô có thể so sánh như vậy? Căn hộ của Kiến Thành là tài sản nhà họ Tống. Còn căn hộ của cô sau khi cưới cũng là tài sản chung của hai vợ chồng.”

    Tôi nhìn chị ta.

    “Căn hộ Vân Đình được tôi mua trước khi quen Kiến Thành.”

    “Nhưng cô đã là vợ của nó thì phải biết chia sẻ!”

    “Chia sẻ và bị ép giao tài sản là hai chuyện khác nhau.”

    Sắc mặt Tống Mỹ Lan trầm xuống.

    “Cô nói như thể nhà chúng tôi đang chiếm đoạt đồ của cô vậy.”

    Tôi chưa kịp trả lời, bà Thục Phân đã đỏ mắt.

    “Thanh Nghi, bác thật sự thất vọng. Trước đây bác cứ nghĩ con là người hiểu chuyện. Bác không ngờ chưa bước qua cửa mà con đã đề phòng nhà chồng như kẻ xa lạ.”

    Bà vừa nói vừa lấy khăn giấy chấm khóe mắt.

    Vài người họ hàng lập tức lên tiếng an ủi.

    “Thục Phân, chị đừng buồn.”

    “Con dâu thời nay độc lập quá nên khó bảo.”

    “Chưa cưới đã tính toán như vậy, sau này còn coi bố mẹ chồng ra gì?”

    Một người bác lớn tuổi nhìn tôi đầy trách móc:

    “Cô gái, trưởng bối nói vài câu thì nên nghe. Đừng vì một căn nhà mà làm hỏng hôn sự.”

    Tôi chậm rãi hít vào.

    Tôi hiểu họ đang làm gì.

    Họ tạo ra một căn phòng nơi tất cả mọi người cùng nói rằng tôi sai, để tôi bắt đầu nghi ngờ chính mình.

    Họ biến quyền sở hữu của tôi thành sự ích kỷ.

    Biến yêu cầu vô lý của họ thành nghĩa vụ của một người con dâu.

    Biến sự im lặng của Kiến Thành thành một điều có thể chấp nhận.

    Tôi không còn muốn tranh luận.

    Bởi một cuộc tranh luận chỉ có ý nghĩa khi cả hai bên đều tôn trọng sự thật.

    Tôi cúi xuống, mở túi xách.

    Tống Mỹ Lan nhếch môi, tưởng rằng tôi sắp lấy bút ký vào thỏa thuận của chị ta.

    Nhưng tôi lấy điện thoại ra, gửi một tin nhắn.

    Nội dung chỉ có một dòng:

    “Thực hiện phương án thứ hai, mang hồ sơ lên phòng tiệc.”

    Tôi đặt điện thoại xuống.

    Sau đó, tôi cầm tập thỏa thuận gia đình lên đọc.

    Điều khoản được viết rất chi tiết.

    Không chỉ có chuyện nghỉ việc và giao căn hộ.

    Trong đó còn ghi rằng tiền biếu tặng của bố mẹ tôi trong lễ cưới sẽ được chuyển vào tài khoản do bà Thục Phân quản lý; mọi tài sản mua sau hôn nhân phải ưu tiên đứng tên Kiến Thành; nếu ly hôn vì “nguyên nhân từ phía người vợ”, tôi không được yêu cầu chia phần tài sản của nhà họ Tống.

    Tôi đọc đến cuối rồi hỏi:

    “Ở đây có chỗ ký tên?”

    Tống Mỹ Lan lập tức đưa bút.

    “Có. Cô ký xác nhận đã đọc và đồng ý.”

    Tôi nhận lấy.

    Kiến Thành cuối cùng cũng ngẩng đầu.

    “Thanh Nghi, em đừng làm căng. Chỉ là hình thức thôi.”

    Tôi nhìn anh.

    “Anh muốn em ký sao?”

    Anh im lặng vài giây.

    “Anh nghĩ… ký cũng không ảnh hưởng gì. Người một nhà đâu cần so đo từng chữ.”

    Tôi gật đầu.

    “Được.”

    Nụ cười lập tức xuất hiện trên gương mặt Tống Mỹ Lan.

    Bà Thục Phân cũng thở phào.

    Tôi lật sang mặt sau của tập giấy, kéo tờ xác nhận đính kèm ra.

    Nhưng tôi không ký vào dòng “đồng ý chấp hành”.

    Tôi viết tên mình vào một văn bản khác đã được chuẩn bị sẵn trong túi.

    Tống Mỹ Lan nghiêng người nhìn.

    “Cô ký gì vậy?”

    “Tờ xác nhận.”

    “Đưa tôi xem.”

    Tôi không ngăn cản.

    Chị ta giật tờ giấy khỏi tay tôi, đọc được vài dòng thì sắc mặt thay đổi.

    “Đây là cái gì?”

    Tôi bình tĩnh đáp:

    “Xác nhận chấm dứt thỏa thuận sử dụng căn hộ Vân Đình.”

    Cả phòng im bặt.

    Kiến Thành cau mày.

    “Thỏa thuận sử dụng nào?”

    Tôi nhìn thẳng vào anh.

    “Thỏa thuận cho gia đình anh dùng căn hộ tầng mười tám trong thời gian chuẩn bị hôn lễ.”

    Tống Mỹ Lan sững người.

    “Căn hộ tầng mười tám?”

    “Đúng.”

    “Không phải căn hộ đó là của bạn Kiến Thành cho mượn sao?”

    Tôi bật cười nhẹ.

    “Anh ấy nói với chị như vậy?”

    Mặt Kiến Thành lập tức tái đi.

    Trước khi anh kịp lên tiếng, cửa phòng tiệc bị gõ ba tiếng.

    Một người đàn ông mặc bộ vest sẫm màu bước vào cùng hai nhân viên quản lý tòa nhà. Trong tay ông là một cặp hồ sơ.

    Ông cúi đầu chào tôi.

    “Cô Hứa, xin lỗi vì đã để cô chờ.”

    Những người họ hàng nhà họ Tống nhìn nhau.

    Tống Mỹ Lan đứng bật dậy.

    “Các anh là ai?”

    Người đàn ông mở cặp tài liệu.

    “Tôi là Chu Văn Bân, phụ trách quản lý tài sản của khu căn hộ Vân Đình. Theo yêu cầu của chủ sở hữu, chúng tôi đến thông báo quyết định thu hồi quyền sử dụng tạm thời đối với căn hộ số 1802.”

    Tống Mỹ Lan trợn mắt.

    “Thu hồi quyền sử dụng? Ai là chủ sở hữu?”

    Ông Chu nhìn vào hồ sơ rồi đọc rõ ràng:

    “Chủ sở hữu hợp pháp của căn hộ số 1802, tòa số ba, khu Vân Đình, là cô Hứa Thanh Nghi.”

    Căn phòng như bị rút hết không khí.

    Một người cô há miệng nhưng không nói được lời nào.

    Bà Thục Phân cứng đờ trên ghế.

    Tống Quốc Lâm ngẩng phắt đầu lên.

    Còn Tống Kiến Thành nhìn tôi như thể lần đầu tiên biết tôi là ai.

    Tống Mỹ Lan lắp bắp:

    “Không thể nào. Kiến Thành nói căn hộ đó là của bạn nó, chỉ cho bố mẹ ở tạm trong thời gian sửa nhà.”

    Tôi nhìn Kiến Thành.

    “Anh giải thích đi.”

    Mồ hôi bắt đầu xuất hiện trên trán anh.

    “Anh… anh chỉ không muốn cả nhà cảm thấy ngại.”

    “Vậy nên anh nói dối rằng đó là nhà của bạn?”

    “Anh định sau này sẽ nói.”

    “Sau khi nào?”

    Anh không trả lời.

    Tôi hiểu.

    Anh muốn đợi sau khi chúng tôi đăng ký kết hôn.

    Khi mọi thứ đã trở nên khó rút lui hơn.

    Ông Chu tiếp tục:

    “Thời hạn bàn giao căn hộ là trước mười hai giờ trưa ngày mai. Thẻ ra vào phụ sẽ bị vô hiệu hóa vào lúc mười hai giờ ba mươi. Đồ đạc cá nhân có thể được nhân viên hỗ trợ vận chuyển.”

    Bà Thục Phân đứng bật dậy.

    “Ngày mai? Sao có thể gấp như vậy? Chúng tôi đang ở đó!”

    Tôi nhìn bà.

    “Trước đây bác nói nhà bác đang sửa, chỉ cần ở nhờ ba tuần. Nhưng đã gần bốn tháng rồi.”

    “Chúng ta sắp thành người một nhà, con tính toán thời gian làm gì?”

    “Tôi cũng từng nghĩ chúng ta sắp thành người một nhà.”

    Tống Mỹ Lan bước tới, giọng đã không còn kiêu ngạo như trước.

    “Thanh Nghi, cô đang giận nên hành động bốc đồng. Chúng ta ngồi xuống nói chuyện. Không cần để người ngoài biết chuyện gia đình.”

    Tôi nhìn tờ thỏa thuận chị ta vẫn cầm trên tay.

    “Lúc chị yêu cầu tôi giao căn hộ cho Minh Hạo, chị nói đó là quy củ. Bây giờ tôi lấy lại căn hộ của mình, tại sao lại thành hành động bốc đồng?”

    “Nhưng bố mẹ tôi đang sống ở đó!”

    “Bố mẹ chị có nhà riêng.”

    “Nhà đang sửa!”

    Ông Chu bình tĩnh mở thêm một tài liệu.

    “Chúng tôi đã kiểm tra. Căn nhà của ông bà Tống tại khu Cảnh Hà không có hồ sơ đăng ký sửa chữa trong bốn tháng gần đây.”

    Sắc mặt bà Thục Phân trắng bệch.

    Tôi quay sang bà.

    “Vậy nhà bác thật sự đang sửa sao?”

    Bà mấp máy môi.

    Kiến Thành vội đứng lên.

    “Thanh Nghi, anh giải thích được.”

    “Em đang nghe.”

    “Bố mẹ chỉ muốn trải nghiệm môi trường sống ở Vân Đình. Anh sợ em không đồng ý nên mới nói nhà đang sửa. Nhưng họ không làm hỏng gì cả.”

    Tôi nhìn anh thật lâu.

    “Anh dùng căn hộ của em để lấy lòng gia đình anh. Sau đó anh cùng họ ngồi đây, yêu cầu em tiếp tục giao nó cho em trai anh ở miễn phí.”

    “Không phải như em nghĩ.”

    “Vậy là như thế nào?”

    “Anh chỉ muốn mọi người hòa thuận.”

    “Bằng cách hy sinh quyền lợi của em?”

    “Em đừng dùng từ nặng như vậy.”

    Tôi bật cười.

    Đến lúc này anh vẫn quan tâm đến từ ngữ hơn là điều anh đã làm.

    Tôi đứng dậy, kéo chiếc va li nhỏ đặt sau ghế.

    Chiếc va li vốn chứa quà ra mắt tôi chuẩn bị cho từng người trong gia đình họ Tống: trà Long Tỉnh loại tốt, khăn lụa, thuốc bổ cho người lớn tuổi và vài món quà dành cho trẻ nhỏ.

    Tôi đã dành gần một tuần để lựa chọn.

    Giờ chúng không còn ý nghĩa.

    Kiến Thành nắm lấy cổ tay tôi.

    “Em đi đâu?”

    Tôi nhìn bàn tay anh.

    “Buông ra.”

    “Thanh Nghi, hôm nay là ngày ra mắt họ hàng. Em bỏ đi như vậy, anh biết giải thích thế nào?”

    Tôi thấy lòng mình đau nhói.

    Không phải vì anh giữ tôi.

    Mà vì trong giây phút này, điều anh lo lắng nhất vẫn là thể diện.

    Tôi gỡ tay anh ra.

    “Anh có thể nói sự thật.”

    “Anh xin lỗi.” Anh hạ giọng. “Anh thừa nhận anh xử lý chưa tốt. Nhưng chúng ta sắp cưới rồi. Không thể vì một chuyện nhỏ mà—”

    “Chuyện nhỏ?”

    Tôi nhìn anh.

    “Anh nói dối em để đưa bố mẹ vào nhà em ở. Anh che giấu thân phận chủ sở hữu trước gia đình. Anh tham gia soạn thỏa thuận ép em nghỉ việc, giao nhà và tiền tiết kiệm. Bây giờ anh gọi đó là chuyện nhỏ?”

    Tống Quốc Lâm lạnh giọng:

    “Cô Hứa, cô nói chuyện với con trai tôi nên giữ chừng mực.”

    Tôi quay sang ông.

    “Bác Tống, cháu đã giữ chừng mực suốt bữa ăn này.”

    “Cô thu hồi nhà ngay trong đêm trước mặt cả họ, đó là chừng mực sao?”

    “Cháu chỉ lấy lại tài sản của mình.”

    “Cô làm vậy là khiến bố mẹ chồng tương lai không còn chỗ ở.”

    “Bác có nhà riêng.”

    Ông nghẹn lời.

    Tống Mỹ Lan nắm lấy cánh tay tôi.

    “Thanh Nghi, cô ngồi xuống trước đã. Chuyện căn hộ có thể bàn lại. Còn thỏa thuận kia, nếu cô không thích thì bỏ đi.”

    Tôi nhìn chị ta.

    “Mười phút trước chị còn nói đó là quy củ không thể thay đổi.”

    “Quy củ cũng có thể linh hoạt.”

    “Chỉ linh hoạt khi chị biết căn hộ thực sự thuộc về tôi?”

    Mặt chị ta đỏ bừng.

    Tôi kéo va li đi về phía cửa.

    Kiến Thành chạy theo.

    “Thanh Nghi!”

    Tôi không dừng.

    Anh đuổi kịp tôi trước cửa thang máy, chặn ngang phía trước.

    “Em bình tĩnh lại. Chúng ta đã đặt khách sạn, gửi thiệp cưới, chụp ảnh cưới. Chỉ còn hai mươi ngày nữa thôi.”

    Tôi ấn nút gọi thang máy.

    “Vậy thì vẫn còn kịp.”

    “Em có ý gì?”

    “Còn kịp hủy.”

    Gương mặt anh cứng đờ.

    “Em muốn hủy hôn?”

    Cửa thang máy mở ra.

    Tôi kéo va li bước vào.

    Ngay trước khi cửa đóng, tôi nhìn người đàn ông mình từng định trao cả cuộc đời.

    “Không phải em muốn hủy hôn.”

    Tôi nói.

    “Là những gì anh và gia đình vừa làm đã khiến cuộc hôn nhân này không còn lý do để bắt đầu.”

    Cửa thang máy khép lại.

    Qua khe cửa hẹp dần, tôi nhìn thấy Kiến Thành đứng bất động bên ngoài.

    Sau lưng anh, cả gia đình họ Tống đang tràn ra hành lang.

    Người gọi tên tôi.

    Người trách móc.

    Người khuyên can.

    Người cố giữ thể diện bằng cách nói rằng đây chỉ là hiểu lầm.

    Nhưng khi thang máy bắt đầu đi xuống, tất cả âm thanh ấy đều bị chặn lại.

    Chỉ còn tiếng bánh xe va li lăn nhẹ trên nền kim loại và nhịp tim tôi dội mạnh trong lồng ngực.

    Tôi tưởng mình sẽ khóc.

    Nhưng không.

    Tôi chỉ cảm thấy một khoảng trống sâu hoắm mở ra bên trong.

    Ba năm tình cảm.

    Một lễ cưới đã chuẩn bị gần xong.

    Một tương lai tôi từng hình dung rõ ràng.

    Tất cả tan vỡ trong chưa đầy một giờ.

    Khi thang máy xuống tầng một, tôi bước ra đại sảnh.

    Bên ngoài, mưa xuân Hàng Châu đang rơi lất phất.

    Ánh đèn phản chiếu trên mặt đường ướt, kéo thành những vệt dài mờ nhòe.

    Tôi vừa định gọi xe thì điện thoại rung liên tục.

    Tin nhắn của Kiến Thành.

    “Em về đâu?”

    “Chúng ta nói chuyện riêng.”

    “Đừng làm mọi chuyện lớn hơn.”

    “Bố mẹ đang rất sốc.”

    “Ngày mai anh sẽ tới tìm em.”

    Sau đó là tin nhắn của Tống Mỹ Lan:

    “Cô làm như vậy quá tuyệt tình.”

    “Dù có mâu thuẫn, cô cũng không nên đuổi người lớn tuổi ra khỏi nhà.”

    “Chúng ta có thể sửa thỏa thuận.”

    Tôi không trả lời.

    Một chiếc xe màu đen dừng trước mái hiên.

    Cửa sau mở ra.

    Người bạn thân của tôi, Lâm Nhược Đồng, bước xuống với chiếc ô trong tay.

    Cô nhìn tôi, rồi nhìn chiếc va li.

    “Cuối cùng cậu cũng đi ra.”

    Tôi khựng lại.

    “Cậu biết?”

    “Quản lý Chu gọi cho mình trước khi lên phòng tiệc. Anh ấy sợ cậu một mình không ổn.”

    Nhược Đồng kéo tôi vào trong ô.

    “Lên xe trước.”

    Tôi ngồi vào ghế sau.

    Đến khi cánh cửa đóng lại, hơi ấm trong xe bao phủ, tôi mới nhận ra đầu ngón tay mình lạnh đến mức mất cảm giác.

    Nhược Đồng không hỏi ngay.

    Cô đưa tôi một chai nước ấm.

    Tôi cầm lấy, nhìn những giọt nước bám trên cửa kính.

    Một lúc lâu sau, cô nói:

    “Cậu đã nhìn thấy rõ họ là người thế nào. Đau, nhưng vẫn tốt hơn là nhìn thấy sau khi kết hôn.”

    Tôi cúi đầu.

    “Ba năm.”

    “Một người có thể diễn ba năm nếu họ nghĩ phần thưởng phía trước đủ lớn.”

    Tôi nhắm mắt.

    “Kiến Thành không giống vậy.”

    “Không giống hay cậu không muốn tin cậu ấy giống vậy?”

    Câu hỏi ấy chạm đúng nơi tôi đang cố tránh.

    Tôi im lặng.

    Nhược Đồng thở dài.

    “Thanh Nghi, căn hộ Vân Đình không phải điều đáng sợ nhất.”

    Tôi quay sang.

    “Còn gì nữa?”

    Cô mở điện thoại, đưa cho tôi xem một ảnh chụp màn hình.

    Đó là tin nhắn trong một nhóm trò chuyện.

    Tên nhóm: “Gia đình họ Tống”.

    Người gửi là Tống Mỹ Lan.

    Nội dung được gửi từ hai tuần trước:

    “Sau khi cưới, trước tiên phải khiến Thanh Nghi nghỉ việc. Chỉ khi không còn thu nhập, nó mới bớt cứng đầu. Căn hộ Vân Đình cho Minh Hạo ở, tiền tiết kiệm giao mẹ giữ. Chờ nó sinh con rồi thì có muốn rời cũng khó.”

    Tôi nhìn chằm chằm màn hình.

    Phía dưới, Kiến Thành đã trả lời bằng một câu:

    “Chị đừng nói trước mặt cô ấy, em sẽ tìm cơ hội.”

    Tôi cảm giác có thứ gì đó siết chặt lồng ngực.

    Nhược Đồng nói rất khẽ:

    “Ảnh này do một người trong nhà họ Tống gửi cho quản lý Chu. Có lẽ người đó không đồng tình nhưng cũng không dám công khai.”

    Tôi đọc lại từng chữ.

    “Chỉ khi không còn thu nhập, nó mới bớt cứng đầu.”

    Họ không muốn một người con dâu biết hy sinh.

    Họ muốn một người phụ nữ mất khả năng tự quyết.

    Tôi đặt điện thoại xuống.

    Ngoài cửa kính, thành phố vẫn sáng đèn.

    Xe chạy qua những con đường ướt mưa, qua hàng cây long não, qua những tòa nhà cao tầng mà tôi từng thấy thân thuộc.

    Nhưng đêm ấy, mọi thứ bỗng trở nên xa lạ.

    Tôi hỏi:

    “Nhược Đồng, cậu nghĩ Kiến Thành từng yêu mình không?”

    Cô không trả lời ngay.

    Một lúc sau, cô nói:

    “Có thể từng yêu. Nhưng tình yêu không đi cùng tôn trọng thì sớm muộn cũng biến thành một cái lồng.”

    Tôi quay mặt nhìn ra cửa sổ.

    Lần đầu tiên trong đêm, nước mắt rơi xuống.

    Không ồn ào.

    Không nức nở.

    Chỉ là vài giọt nóng hổi trượt qua gò má, mang theo phần cuối cùng của niềm tin tôi từng dành cho người đàn ông ấy.

    Điện thoại lại rung.

    Lần này là một tin nhắn thoại của Kiến Thành.

    Tôi không muốn nghe.

    Nhưng Nhược Đồng nói:

    “Nghe đi. Cậu cần biết cậu ấy sẽ nói gì khi không còn ai đứng bên cạnh chỉ đạo.”

    Tôi mở.

    Giọng Kiến Thành vang lên, mệt mỏi và có phần bực bội:

    “Thanh Nghi, anh biết em giận. Nhưng em cũng phải hiểu hoàn cảnh của anh. Anh là con trai lớn, không thể bỏ mặc bố mẹ và em trai. Em có nhiều hơn họ, chia sẻ một chút thì có sao? Anh không muốn kiểm soát em. Anh chỉ muốn em hòa nhập với gia đình anh. Nếu em cứ giữ thái độ hơn thua thế này, sau khi cưới chúng ta sẽ rất khó sống.”

    Tôi nghe xong rồi tắt màn hình.

    Nhược Đồng hỏi:

    “Cậu định trả lời sao?”

    Tôi lau nước mắt.

    “Không trả lời.”

    “Ngày mai cậu định làm gì?”

    Tôi nhìn bóng mình phản chiếu trên cửa kính.

    Gương mặt nhợt nhạt, đôi mắt đỏ nhưng tỉnh táo hơn bất cứ lúc nào.

    “Ngày mai, mình sẽ đến ngân hàng, khách sạn và văn phòng đăng ký hôn nhân.”

    “Để làm gì?”

    “Thu hồi giấy ủy quyền tài chính, hủy thanh toán tiệc cưới và xác nhận chúng mình chưa nộp hồ sơ đăng ký.”

    Nhược Đồng gật đầu.

    “Còn căn hộ?”

    “Twelve giờ trưa, thẻ ra vào của họ sẽ hết hiệu lực.”

    “Cậu có mềm lòng không?”

    Tôi im lặng một lúc rồi đáp:

    “Có thể mình sẽ đau lòng.”

    Tôi siết chặt chai nước trong tay.

    “Nhưng mình sẽ không quay lại.”

    Đêm ấy, tôi không hề biết rằng quyết định bước vào thang máy mới chỉ là khởi đầu.

    Nhà họ Tống không định để tôi rời đi dễ dàng.

    Bởi căn hộ Vân Đình không phải thứ duy nhất họ muốn lấy từ tôi.

    Và Kiến Thành cũng đang che giấu một bí mật còn lớn hơn cả tờ thỏa thuận gia đình được đặt trên bàn tiệc hôm ấy.


    CHƯƠNG 2 BÍ MẬT SAU CÁNH CỬA CĂN HỘ VÂN ĐÌNH

    Sáng hôm sau, lúc sáu giờ bốn mươi, điện thoại của tôi bắt đầu đổ chuông.

    Người gọi đầu tiên là bà Thục Phân.

    Tôi không nghe.

    Cuộc gọi vừa dứt, Tống Mỹ Lan gọi tới.

    Sau đó là Kiến Thành.

    Rồi Tống Quốc Lâm.

    Chỉ trong hai mươi phút, tôi nhận hơn ba mươi cuộc gọi nhỡ.

    Tin nhắn nối tiếp nhau hiện lên.

    Bà Thục Phân:

    “Thanh Nghi, tối qua bác không ngủ được. Có chuyện gì chúng ta từ từ nói, con đừng làm khó người lớn.”

    Tống Quốc Lâm:

    “Chuyện gia đình nên giải quyết trong nhà. Hành động của cháu đã gây ảnh hưởng rất xấu.”

    Tống Mỹ Lan:

    “Bố mẹ tôi đang thu dọn đồ. Cô hài lòng chưa?”

    Kiến Thành:

    “Anh đang ở dưới nhà Nhược Đồng. Xuống gặp anh.”

    Tôi đứng bật dậy.

    Nhược Đồng đang pha cà phê trong bếp, nghe thấy liền quay lại.

    “Sao vậy?”

    “Kiến Thành ở dưới.”

    Cô đặt cốc xuống.

    “Cậu có muốn gặp không?”

    Tôi nhìn màn hình điện thoại.

    Một phần trong tôi muốn tránh mặt.

    Nhưng tôi hiểu né tránh chỉ khiến anh ta có thêm lý do kéo dài.

    “Gặp.”

    “Vậy mình đi cùng.”

    “Không cần. Mình xuống sảnh. Có bảo vệ.”

    Nhược Đồng vẫn khoác áo theo tôi.

    “Mình đứng xa. Không xen vào trừ khi cần.”

    Khi thang máy mở ở tầng một, tôi nhìn thấy Kiến Thành ngay lập tức.

    Anh đứng giữa sảnh, áo sơ mi nhăn nhúm, tóc rối, dưới mắt có quầng thâm.

    Trên tay anh là bó hoa hồng trắng tôi từng nói mình thích.

    Nếu là một tuần trước, có lẽ hình ảnh ấy sẽ khiến tôi mềm lòng.

    Nhưng sau khi đọc tin nhắn trong nhóm gia đình họ Tống, tôi chỉ thấy mệt mỏi.

    Anh bước nhanh tới.

    “Thanh Nghi.”

    Tôi dừng cách anh khoảng hai mét.

    “Anh nói đi.”

    Anh đưa bó hoa ra.

    “Anh xin lỗi.”

    Tôi không nhận.

    Anh hạ tay xuống.

    “Anh thừa nhận chuyện tối qua là lỗi của anh. Anh không nên để chị gái nói như vậy trước mặt họ hàng.”

    Tôi hỏi:

    “Lỗi của anh là để chị gái nói trước mặt mọi người, hay là anh cũng đồng ý với nội dung chị ấy nói?”

    Anh cau mày.

    “Anh đã suy nghĩ cả đêm. Anh đồng ý rằng yêu cầu em nghỉ việc là không hợp lý. Còn căn hộ, chúng ta có thể bàn lại.”

    “Bàn thế nào?”

    “Minh Hạo không cần ở vô thời hạn. Có thể cho nó ở một, hai năm. Khi nào nó đủ tiền thuê nhà thì chuyển đi.”

    “Không.”

    “Thanh Nghi…”

    “Căn hộ không cho ai ở.”

    “Em đừng tuyệt đối như vậy.”

    Tôi nhìn anh.

    “Anh đến đây để xin lỗi hay tiếp tục thương lượng tài sản của em?”

    Mặt anh thoáng hiện vẻ khó chịu.

    “Anh chỉ đang tìm giải pháp.”

    “Giải pháp là gia đình anh trở về nhà của họ. Còn em giữ căn hộ của em.”

    “Nhưng bố mẹ đã quen sống ở Vân Đình. Ở đó gần bệnh viện, môi trường tốt, an ninh tốt.”

    “Căn nhà Cảnh Hà cũng gần bệnh viện.”

    “Nhà đó cũ rồi.”

    “Vậy họ có thể bán đi, dùng tiền của họ mua nơi phù hợp hơn.”

    Anh hạ giọng:

    “Em biết giá nhà Hàng Châu bây giờ cao thế nào.”

    “Và anh biết em đã phải làm việc bao lâu để mua căn hộ Vân Đình.”

    Kiến Thành siết bó hoa trong tay.

    “Chúng ta sắp là vợ chồng. Em cứ nói tiền của em, nhà của em, gia đình anh. Em không thấy như vậy quá xa cách sao?”

    Tôi nhìn anh một lúc.

    “Anh có nhớ lần đầu chúng ta nói về hôn nhân không?”

    Anh khựng lại.

    “Anh nói mỗi người sẽ giữ tài sản trước hôn nhân, chi phí chung sẽ cùng đóng góp, không ai phải hy sinh sự nghiệp cho ai. Chính điều đó khiến em tin anh.”

    “Anh vẫn nghĩ như vậy.”

    “Không. Anh chỉ nói như vậy khi chưa chắc em sẽ cưới anh.”

    “Em đừng bóp méo mọi chuyện.”

    Tôi mở điện thoại, đưa ảnh chụp nhóm trò chuyện cho anh xem.

    Gương mặt anh đổi sắc ngay khi nhìn thấy dòng tin nhắn của mình.

    “Em lấy cái này ở đâu?”

    “Điều đó quan trọng sao?”

    “Đây là nhóm riêng của gia đình anh. Ai đã gửi cho em?”

    “Anh không phủ nhận nội dung?”

    Kiến Thành im lặng.

    Tôi đọc lại câu của anh:

    “Chị đừng nói trước mặt cô ấy, em sẽ tìm cơ hội.”

    Tôi ngẩng lên.

    “Anh định tìm cơ hội gì?”

    Anh nhìn quanh sảnh rồi nói nhỏ:

    “Chuyện này phức tạp. Em cho anh lên nhà, chúng ta nói riêng.”

    “Không.”

    “Thanh Nghi, anh không muốn cãi nhau ở đây.”

    “Em cũng không.”

    “Vậy theo anh về.”

    “Nhà nào?”

    Anh không trả lời được.

    Tôi tiếp tục:

    “Căn hộ Vân Đình là của em. Nhà Cảnh Hà là của bố mẹ anh. Căn hộ anh đứng tên thì anh đang cho thuê. Chúng ta chưa đăng ký kết hôn, chưa có nhà chung. Anh muốn em theo anh về đâu?”

    Cổ họng anh chuyển động.

    “Về căn hộ Vân Đình. Bố mẹ anh có thể ra ngoài vài tiếng để chúng ta nói chuyện.”

    “Không cần. Trưa nay họ phải bàn giao.”

    “Em thật sự muốn đuổi họ?”

    “Em đang chấm dứt việc cho ở nhờ.”

    “Khác gì nhau?”

    Tôi thấy trong mắt anh không còn sự cầu khẩn.

    Chỉ còn phẫn nộ vì tôi không làm theo điều anh mong muốn.

    Tôi nói:

    “Anh về giúp họ thu dọn đi.”

    Tôi quay người.

    Anh bất ngờ giữ tay tôi.

    “Em không được đi.”

    Bảo vệ ở quầy lập tức bước tới.

    Tôi nhìn xuống tay anh.

    “Buông ra.”

    Kiến Thành nhận ra ánh mắt mọi người, lập tức thả tay.

    “Anh chỉ muốn nói cho rõ.”

    “Chúng ta đã nói rất rõ.”

    “Vậy hôn lễ thì sao?”

    “Hủy.”

    “Thiệp đã phát hết rồi!”

    “Em sẽ thông báo với phía em. Anh thông báo với phía anh.”

    “Khách sạn đã đặt cọc.”

    “Tiền đặt cọc do em thanh toán. Sáng nay em sẽ xử lý.”

    Anh trừng mắt.

    “Em đã quyết định hết rồi?”

    “Đúng.”

    “Chỉ qua một đêm?”

    “Không. Là sau ba năm và một buổi tối đủ để nhìn lại ba năm đó.”

    Tôi bước vào thang máy.

    Lần này anh không đuổi theo.

    Khi cửa đóng, tôi nghe thấy bó hoa bị ném xuống sàn.

    Đến tám giờ rưỡi, tôi cùng Nhược Đồng tới chi nhánh ngân hàng nơi mình giao dịch.

    Trước khi chuẩn bị kết hôn, tôi từng ký một giấy ủy quyền để Kiến Thành có thể thay tôi xử lý một phần khoản thanh toán liên quan đến việc cải tạo căn hộ.

    Nhân viên ngân hàng kiểm tra hệ thống rồi nói:

    “Cô Hứa, giấy ủy quyền này có thể thu hồi ngay. Nhưng chúng tôi cần thông báo cho cô một việc.”

    Tôi hỏi:

    “Việc gì?”

    “Ba ngày trước, anh Tống đã dùng bản sao giấy ủy quyền để hỏi thủ tục vay thế chấp bằng căn hộ Vân Đình.”

    Tôi sững lại.

    “Anh ấy đã nộp hồ sơ vay chưa?”

    “Chưa thể nộp chính thức vì thiếu chữ ký trực tiếp và xác minh sinh trắc học của chủ sở hữu. Nhưng anh ấy đã yêu cầu cung cấp bảng tính khoản vay.”

    Nhược Đồng lập tức hỏi:

    “Số tiền dự kiến bao nhiêu?”

    Nhân viên nhìn vào màn hình.

    “Khoảng bốn triệu hai trăm nghìn nhân dân tệ.”

    Tôi cảm thấy sống lưng lạnh buốt.

    “Lý do vay?”

    “Anh ấy nói để đầu tư kinh doanh gia đình.”

    Tôi nhắm mắt vài giây.

    Đầu óc tôi lướt qua những cuộc trò chuyện gần đây.

    Kiến Thành từng nhắc Minh Hạo muốn mở một nhà hàng.

    Tống Mỹ Lan từng than chồng chị ta làm ăn khó khăn.

    Ông Quốc Lâm từng hỏi tôi có hiểu về các khoản vay thế chấp không.

    Khi ấy tôi chỉ nghĩ họ nói chuyện vu vơ.

    Hóa ra họ đã tính toán từ trước.

    Tôi lập tức ký thu hồi giấy ủy quyền và yêu cầu thêm xác minh đặc biệt đối với mọi giao dịch liên quan đến căn hộ.

    Rời ngân hàng, Nhược Đồng nói:

    “Đây không còn là chuyện gia đình muốn ở nhờ nữa.”

    Tôi gật đầu.

    “Họ muốn dùng nhà của mình để vay tiền.”

    “Cậu phải giữ toàn bộ bằng chứng.”

    “Mình biết.”

    Chúng tôi đến khách sạn hủy tiệc cưới, sau đó gọi cho studio ảnh cưới và đơn vị tổ chức.

    Mỗi cuộc điện thoại giống như tháo một viên gạch khỏi căn nhà tương lai tôi từng xây.

    Nhân viên khách sạn hỏi:

    “Cô chắc chắn muốn hủy sao? Hôn lễ chỉ còn hai mươi ngày.”

    Tôi nhìn bản hợp đồng.

    “Chắc chắn.”

    “Tiền đặt cọc có thể chỉ hoàn lại sáu mươi phần trăm.”

    “Không sao.”

    Mất tiền còn có thể kiếm lại.

    Mất quyền kiểm soát cuộc đời mình mới là cái giá quá đắt.

    Mười một giờ, quản lý Chu gọi.

    “Cô Hứa, gia đình ông Tống đang thu dọn nhưng phát sinh một vấn đề.”

    “Vấn đề gì?”

    “Họ nói một số đồ nội thất là do họ mua, muốn chuyển đi.”

    “Đồ nào?”

    “Bộ sofa phòng khách, bàn ăn, hai giường ngủ và tủ lạnh.”

    Tôi cau mày.

    “Những món đó đã có sẵn khi họ chuyển vào.”

    “Chúng tôi cũng kiểm tra hồ sơ bàn giao, đúng là tài sản của cô.”

    “Vậy không được chuyển.”

    “Còn một việc nữa. Chúng tôi phát hiện khóa phòng làm việc đã bị thay.”

    Tim tôi trùng xuống.

    “Phòng làm việc?”

    “Vâng. Nhân viên không mở được bằng chìa khóa dự phòng.”

    Tôi lập tức nói:

    “Giữ nguyên hiện trường. Tôi tới ngay.”

    Khi đến Vân Đình, phía trước tòa nhà đã có một chiếc xe tải nhỏ.

    Bà Thục Phân đứng giữa đại sảnh, chỉ huy nhân viên chuyển đồ.

    Vừa thấy tôi, bà lập tức bước tới.

    “Con còn biết đến sao?”

    Tôi không đáp, đi thẳng tới thang máy.

    Bà đuổi theo.

    “Thanh Nghi, con làm chuyện gì cũng phải chừa đường lui. Hôm qua bác đã nhịn con trước mặt họ hàng. Hôm nay con còn đưa người tới kiểm kê từng món đồ.”

    Tôi dừng lại.

    “Bác thay khóa phòng làm việc của cháu?”

    Ánh mắt bà chao đảo.

    “Phòng đó bố Kiến Thành dùng để cất tài liệu.”

    “Đây là nhà cháu.”

    “Chúng ta sắp là người một nhà, phân biệt phòng của ai làm gì?”

    “Chìa khóa đâu?”

    “Bác không cầm.”

    Ông Quốc Lâm từ trong thang máy bước ra, trên tay ôm một thùng giấy.

    “Là tôi thay. Một cái khóa thôi, có gì nghiêm trọng?”

    Tôi nhìn ông.

    “Trong phòng có gì?”

    “Tài liệu cá nhân.”

    “Tài liệu gì?”

    “Không liên quan đến cô.”

    Tôi bật cười vì kinh ngạc.

    “Bác thay khóa một căn phòng trong nhà cháu rồi nói những thứ bên trong không liên quan đến cháu?”

    Tống Mỹ Lan chạy tới.

    “Cô đừng gây chuyện ở sảnh. Chúng tôi sẽ trả chìa khóa sau.”

    Tôi quay sang quản lý Chu.

    “Gọi thợ khóa.”

    Ông Quốc Lâm lập tức quát:

    “Không được!”

    Mọi người xung quanh đều quay lại nhìn.

    Sự phản ứng quá mạnh ấy khiến nghi ngờ trong tôi trở nên rõ ràng.

    Tôi nói:

    “Vậy càng phải mở.”

    Ông bước lên chắn trước cửa thang máy.

    “Đó là tài liệu kinh doanh bí mật.”

    “Bác có hai lựa chọn. Giao chìa khóa, hoặc chúng ta mở khóa dưới sự chứng kiến của quản lý và bảo vệ.”

    “Cô không có quyền xem giấy tờ của tôi!”

    “Nhưng bác không có quyền cất chúng trong phòng bị khóa của nhà tôi.”

    Bà Thục Phân kéo tay chồng.

    “Ông đưa chìa khóa cho nó đi.”

    Ông Quốc Lâm quay sang trừng bà.

    Bà hạ giọng:

    “Không giấu được đâu.”

    Câu nói ấy khiến cả sảnh im lặng.

    Cuối cùng, ông lấy một chiếc chìa khóa nhỏ trong túi áo, ném xuống đất trước mặt tôi.

    “Cô muốn xem thì xem. Sau này đừng hối hận.”

    Tôi cúi xuống nhặt chìa khóa.

    Khi cánh cửa phòng làm việc mở ra, mùi thuốc lá ập tới.

    Trên chiếc bàn vốn thuộc về tôi là một máy tính xách tay, một máy in nhỏ, nhiều tập hồ sơ và con dấu.

    Nhược Đồng đi phía sau khẽ hít vào.

    “Thanh Nghi…”

    Tôi bước tới bàn.

    Trên cùng là một tập tài liệu vay vốn.

    Người vay dự kiến: Công ty dịch vụ ẩm thực Minh Hạo.

    Người bảo lãnh: Tống Kiến Thành.

    Tài sản bảo đảm dự kiến: căn hộ số 1802 khu Vân Đình.

    Phía dưới còn có bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu căn hộ của tôi.

    Tôi cầm lên.

    “Các người lấy bản sao này ở đâu?”

    Không ai trả lời.

    Tống Mỹ Lan nói:

    “Chỉ là bản photo, chưa có giá trị pháp lý.”

    “Chị biết chuyện?”

    “Minh Hạo muốn mở nhà hàng. Kiến Thành nói có thể hỏi thử ngân hàng.”

    “Hỏi thử bằng tài sản của tôi?”

    “Sau khi kết hôn, hai người là vợ chồng. Cậu ấy giúp em trai cũng là giúp gia đình.”

    Tôi nhìn từng người.

    “Vậy bữa tiệc tối qua không phải để ra mắt họ hàng.”

    Không ai lên tiếng.

    “Đó là để ép tôi đồng ý giao căn hộ, nghỉ việc và trao quyền quản lý tài chính. Sau đó các người có thể dùng căn hộ vay tiền cho Minh Hạo.”

    Bà Thục Phân lập tức nói:

    “Không ai ép con cả. Chúng ta chỉ đang tính cách tốt nhất cho cả gia đình.”

    “Cách tốt nhất là lấy nhà của cháu đi vay?”

    “Minh Hạo làm ăn thành công thì sau này cũng giúp lại anh chị.”

    “Vậy tại sao không thế chấp nhà Cảnh Hà?”

    Bà cứng họng.

    Tôi hỏi tiếp:

    “Tại sao không thế chấp căn hộ của Kiến Thành?”

    Tống Mỹ Lan nhíu mày.

    “Căn hộ của Kiến Thành là đường lui của nó.”

    Tôi nhìn chị ta.

    “Còn căn hộ của tôi thì không phải đường lui của tôi?”

    “Cô là phụ nữ. Sau khi kết hôn, chồng chính là đường lui.”

    Tôi bật cười.

    Lần này Nhược Đồng cũng cười, nhưng là nụ cười đầy cay đắng.

    Cô nói:

    “Vậy tại sao cả nhà các người lại cần căn hộ của một người phụ nữ làm đường lui?”

    Mặt Tống Mỹ Lan đỏ bừng.

    Đúng lúc đó, cửa phòng bật mở.

    Kiến Thành xuất hiện, thở gấp.

    Anh nhìn tập hồ sơ trong tay tôi rồi biết mọi chuyện đã lộ.

    “Thanh Nghi, anh có thể giải thích.”

    “Anh đã nói câu này quá nhiều lần.”

    “Anh chỉ hỏi thủ tục. Anh chưa định làm nếu em không đồng ý.”

    “Tại sao anh không hỏi em trước?”

    “Vì anh biết em sẽ phản đối.”

    “Vậy anh định đợi em ký tờ thỏa thuận tối qua?”

    Anh im lặng.

    Tôi cảm thấy nỗi đau trong lòng bỗng lắng xuống.

    Khi sự thật đã đủ rõ, người ta không còn sức để tự lừa mình.

    Tôi đặt hồ sơ lên bàn.

    “Anh đã bao giờ định nói thật với em không?”

    “Sau khi mọi chuyện ổn định.”

    “Sau khi em nghỉ việc?”

    “Không phải.”

    “Sau khi em giao tiền tiết kiệm cho mẹ anh?”

    “Thanh Nghi…”

    “Sau khi em mang thai và khó rời đi?”

    Gương mặt anh trắng bệch.

    Anh nhìn tôi như thể không hiểu tại sao tôi biết câu đó.

    Tôi mở ảnh chụp nhóm trò chuyện.

    “Tất cả kế hoạch của gia đình anh đều ở đây.”

    Anh quay phắt sang Tống Mỹ Lan.

    “Ai đã gửi ra ngoài?”

    Chị ta nghiến răng:

    “Trong nhóm chỉ có người nhà.”

    Tôi nói:

    “Phản ứng đầu tiên của anh vẫn là tìm người tiết lộ, không phải phủ nhận kế hoạch.”

    Kiến Thành quay lại.

    “Em nghe anh. Những lời trong nhóm chỉ là lúc mọi người tức giận nói quá lên.”

    “Còn hồ sơ thế chấp?”

    “Minh Hạo đã đặt cọc mặt bằng. Nếu không có vốn, nó sẽ mất tiền.”

    “Đó là quyết định của em trai anh.”

    “Nhưng anh là anh trai.”

    “Và em là ai?”

    Anh khựng lại.

    Tôi hỏi:

    “Trong mọi quyết định của anh, em là người yêu, là bạn đời, hay chỉ là người có căn hộ phù hợp để giải quyết khó khăn cho gia đình anh?”

    “Anh yêu em.”

    “Anh yêu em nhưng muốn làm em mất việc.”

    “Anh không muốn em mất việc. Anh chỉ nghĩ sau khi có con, em nên ở nhà vài năm.”

    “Anh yêu em nhưng sao chép giấy tờ nhà của em để hỏi vay bốn triệu hai trăm nghìn nhân dân tệ.”

    “Anh sẽ trả.”

    “Bằng gì?”

    Anh không nói được.

    Tôi nhìn bộ hồ sơ trên bàn.

    Dự án nhà hàng của Minh Hạo chỉ có một bản kế hoạch sơ sài, không có kinh nghiệm quản lý, không có khảo sát thị trường rõ ràng.

    Thậm chí phần dự toán doanh thu còn được viết bằng những con số phi thực tế.

    Nếu thất bại, căn hộ của tôi sẽ là thứ bị đặt vào nguy hiểm.

    Vậy mà họ coi đó là chuyện đương nhiên.

    Tôi quay sang quản lý Chu.

    “Nhờ anh lập biên bản toàn bộ giấy tờ và tình trạng căn phòng. Những bản sao tài liệu cá nhân của tôi phải được thu hồi.”

    Kiến Thành vội nói:

    “Em định làm gì?”

    “Bảo vệ tài sản của mình.”

    “Em muốn báo cảnh sát sao?”

    “Hiện tại chưa.”

    Anh thở phào.

    Tôi nói tiếp:

    “Nhưng từ hôm nay, anh và gia đình không được giữ bất cứ bản sao giấy tờ nào của em. Nếu phát hiện tiếp tục sử dụng, em sẽ xử lý theo quy định.”

    Ông Quốc Lâm đập mạnh tay xuống bàn.

    “Cô dọa chúng tôi?”

    Tôi quay sang ông.

    “Cháu đang đặt giới hạn.”

    “Cô chưa làm dâu đã coi chúng tôi là người ngoài.”

    “Chính vì chưa làm dâu nên cháu vẫn còn cơ hội sửa sai.”

    Tống Mỹ Lan chỉ tay vào tôi.

    “Cô đừng tưởng có một căn nhà là hơn người. Em trai tôi có ngoại hình, có công việc, muốn lấy ai chẳng được.”

    Tôi gật đầu.

    “Vậy chúc anh ấy tìm được người phù hợp.”

    “Cô…”

    “Còn lễ cưới đã hủy.”

    Bà Thục Phân choáng váng.

    “Hủy thật sao?”

    “Cháu đã làm thủ tục sáng nay.”

    “Thiệp đã gửi rồi! Họ hàng, hàng xóm đều biết! Nhà chúng tôi sẽ giải thích thế nào?”

    “Bác có thể nói hai chúng cháu không phù hợp.”

    “Chỉ vì căn nhà?”

    Tôi nhìn bà.

    “Không. Vì cháu không muốn sống trong một gia đình cho rằng tình yêu đồng nghĩa với việc một người phải giao hết quyền tự quyết.”

    Bà bước tới, bất ngờ nắm lấy tay tôi.

    Giọng bà dịu xuống.

    “Thanh Nghi, bác xin lỗi. Bác lớn tuổi, suy nghĩ có phần truyền thống. Căn hộ con không muốn cho Minh Hạo thì thôi. Công việc con thích thì cứ làm. Tờ thỏa thuận kia bỏ đi. Con đừng hủy hôn.”

    Tôi nhìn bàn tay bà.

    Tối qua, cũng chính người phụ nữ này khóc trước mặt họ hàng, khiến tôi trở thành kẻ ích kỷ.

    Bây giờ, khi mất chỗ ở và biết kế hoạch vay vốn bị phát hiện, bà lại có thể thay đổi hoàn toàn.

    Tôi nhẹ nhàng rút tay ra.

    “Bác xin lỗi vì nhận ra mình sai, hay vì cháu không còn làm theo ý bác?”

    Mắt bà đỏ lên.

    “Con nghĩ bác xấu xa đến vậy sao?”

    “Cháu không biết. Nhưng cháu biết mình không còn tin được nữa.”

    Kiến Thành bước tới.

    “Cho anh một cơ hội.”

    Tôi nhìn anh.

    “Cơ hội để làm gì?”

    “Để sửa.”

    “Anh sẽ sửa thế nào?”

    “Anh sẽ nói với gia đình không can thiệp. Anh sẽ không dùng giấy tờ căn hộ. Sau khi cưới, chúng ta sống riêng. Em vẫn đi làm.”

    “Còn khi bố mẹ anh khóc?”

    Anh im lặng.

    “Còn khi Mỹ Lan nói em ích kỷ?”

    Anh siết hàm.

    “Còn khi Minh Hạo cần tiền?”

    “Anh sẽ tự xử lý.”

    “Bằng tiền chung của hai vợ chồng?”

    “Chúng ta có thể bàn.”

    Tôi cười buồn.

    “Anh vẫn chưa hiểu.”

    “Anh đang cố hiểu.”

    “Không. Anh chỉ đang tìm một phiên bản lời hứa đủ đẹp để giữ em ở lại. Nhưng khi gia đình gây áp lực, anh vẫn sẽ chọn họ, rồi bảo em phải thông cảm.”

    Anh lắc đầu.

    “Anh có thể thay đổi.”

    “Có thể.”

    Tôi gật đầu.

    “Nhưng em không có nghĩa vụ dùng cuộc đời mình để kiểm chứng.”

    Tôi kéo chiếc ngăn bàn, lấy ra album ảnh cưới thử mà Kiến Thành từng để lại.

    Trang đầu là bức ảnh hai chúng tôi đứng bên hồ, phía sau là hàng liễu rủ trong nắng sớm.

    Trong ảnh, tôi cười rất hạnh phúc.

    Anh nhìn tôi dịu dàng.

    Một khoảnh khắc đẹp.

    Nhưng một khoảnh khắc đẹp không thể che đi một kế hoạch được chuẩn bị sau lưng tôi.

    Tôi đưa album cho anh.

    “Anh mang đi.”

    Anh không nhận.

    “Em giữ đi.”

    “Không cần.”

    “Thanh Nghi…”

    Tôi đặt album lên thùng đồ của anh.

    “Trước mười hai giờ, mọi người rời khỏi căn hộ.”

    Tôi quay người ra cửa.

    Phía sau, bà Thục Phân bắt đầu khóc.

    Tống Mỹ Lan lớn tiếng trách tôi vô tình.

    Ông Quốc Lâm nói nhà họ Tống chưa từng chịu nhục như vậy.

    Kiến Thành gọi tên tôi.

    Tôi không quay lại.

    Đến mười hai giờ mười lăm, căn hộ Vân Đình được bàn giao.

    Nhân viên thay toàn bộ mã khóa.

    Sau khi mọi người rời đi, tôi đứng giữa phòng khách trống trải.

    Căn nhà từng được tôi trang trí bằng màu kem và gỗ sáng giờ lộn xộn, đầy dấu vết của những tháng bị người khác chiếm dụng.

    Trên tường có thêm những chiếc đinh tôi không cho phép đóng.

    Trong bếp, nhiều ngăn tủ bị đổi vị trí.

    Phòng làm việc ám mùi thuốc lá.

    Phòng ngủ phụ chất đầy đồ của Minh Hạo và bạn gái.

    Tôi mở cửa ban công.

    Gió từ sông thổi vào.

    Nhược Đồng đứng cạnh tôi.

    “Cậu ổn không?”

    Tôi nhìn thành phố phía xa.

    “Không ổn.”

    Cô im lặng.

    Tôi nói tiếp:

    “Nhưng mình sẽ ổn.”

    Chiều hôm đó, khi nhân viên đang kiểm kê, chúng tôi phát hiện một chiếc phong bì bị kẹt sau ngăn kéo bàn làm việc.

    Bên trong là hợp đồng cho thuê căn hộ Cảnh Hà của Kiến Thành.

    Điều kỳ lạ là tiền thuê không chuyển vào tài khoản của anh.

    Nó được chuyển hàng tháng cho một người tên Triệu Giai Vân.

    Nhược Đồng nhìn tôi.

    “Cậu biết người này không?”

    Tôi lắc đầu.

    Trên hợp đồng có số điện thoại.

    Tôi chưa kịp quyết định có nên gọi hay không thì điện thoại của mình rung lên.

    Một số lạ gửi tin nhắn:

    “Cô là Hứa Thanh Nghi phải không?”

    “Tôi nghĩ cô cần biết Tống Kiến Thành không chỉ giấu cô chuyện căn hộ.”

    Ngay sau đó là một bức ảnh.

    Trong ảnh, Kiến Thành đứng trước cửa bệnh viện cùng một người phụ nữ trẻ.

    Người phụ nữ bế một bé trai khoảng hai tuổi.

    Còn Kiến Thành đang cúi xuống chỉnh mũ cho đứa trẻ bằng một động tác vô cùng thân thuộc.

    Dòng tin nhắn tiếp theo xuất hiện:

    “Đứa bé gọi anh ta là bố.”

    Tôi nhìn bức ảnh rất lâu.

    Mọi âm thanh quanh mình trở nên xa dần.

    Nhược Đồng cầm lấy điện thoại, sắc mặt thay đổi.

    “Thanh Nghi…”

    Tôi không trả lời.

    Tôi chỉ nhớ tới một năm trước, Kiến Thành từng nói phải đi công tác ở Tô Châu ba ngày.

    Đúng thời gian ghi trên bức ảnh.

    Tôi nhớ những tối anh nói bận chăm khách hàng.

    Những cuối tuần anh đột nhiên mất liên lạc.

    Những khoản tiền anh luôn nói đã gửi cho bố mẹ.

    Tôi đã tin tất cả.

    Tin vì yêu.

    Tin vì nghĩ một người sắp cưới mình sẽ không dựng lên nhiều lớp dối trá đến vậy.

    Tôi gõ một dòng gửi lại số lạ:

    “Cô là ai?”

    Phía bên kia trả lời rất nhanh:

    “Tôi là Triệu Giai Vân.”

    “Tôi không muốn tranh giành anh ta với cô.”

    “Nhưng tôi cũng vừa biết anh ta sắp cưới.”


    CHƯƠNG 3 NGƯỜI BƯỚC RA KHỎI THANG MÁY

    Tôi gặp Triệu Giai Vân vào chiều hôm sau tại một quán trà nhỏ gần kênh đào.

    Cô đến sớm hơn tôi.

    Người phụ nữ trong ảnh trông gầy hơn ngoài đời, mặc áo len màu xám, tóc buộc thấp. Trước mặt cô là một cốc trà đã nguội.

    Thấy tôi bước vào, cô lập tức đứng lên.

    “Cô Hứa.”

    Tôi ngồi xuống đối diện.

    “Cô Triệu.”

    Hai người phụ nữ cùng im lặng.

    Chúng tôi vốn được đặt vào một tình thế rất dễ trở thành đối thủ.

    Nhưng khi nhìn vẻ mệt mỏi trong mắt cô, tôi không thấy giận dữ.

    Tôi chỉ thấy một người cũng đang nhận ra mình bị lừa.

    Giai Vân mở điện thoại, đặt trước mặt tôi.

    “Đây là tin nhắn giữa tôi và Kiến Thành.”

    Tôi không cầm lên ngay.

    “Cô quen anh ấy bao lâu?”

    “Gần bốn năm.”

    Tim tôi khẽ nhói.

    Tôi và Kiến Thành quen nhau ba năm.

    Nghĩa là trước khi gặp tôi, anh đã ở bên Giai Vân.

    “Đứa trẻ…”

    “Là con trai tôi.”

    “Con của Kiến Thành?”

    Cô siết ngón tay.

    “Anh ấy luôn nói là con mình. Nhưng chúng tôi chưa từng đăng ký kết hôn. Khi tôi mang thai, anh ấy nói gia đình phản đối vì tôi từng ly hôn. Anh ấy bảo tôi đợi đến khi sự nghiệp ổn định.”

    Tôi nhìn cô.

    “Cô từng ly hôn?”

    “Cuộc hôn nhân đầu chỉ kéo dài một năm. Không có con. Sau đó tôi quen Kiến Thành.”

    “Anh ấy nói gì về tôi?”

    Giai Vân cúi đầu.

    “Anh ấy nói cô là đối tác kinh doanh.”

    Tôi bật cười, nhưng âm thanh bật ra khô khốc.

    “Đối tác?”

    “Anh ấy nói vì công việc nên thường xuyên phải xuất hiện cùng cô. Tôi từng thấy ảnh hai người trên mạng xã hội, nhưng anh ấy giải thích đó là hoạt động của công ty.”

    “Còn ảnh cưới?”

    “Anh ấy chặn tôi khỏi một số bài đăng. Tôi chỉ biết chuyện hôn lễ ba ngày trước, khi một người bạn gửi ảnh thiệp cưới.”

    Tôi nhìn tin nhắn trên màn hình.

    Kiến Thành gọi Giai Vân là “vợ”.

    Anh hỏi thăm con.

    Anh hứa sau khi “giải quyết xong chuyện ở Hàng Châu” sẽ đón hai mẹ con về sống cùng.

    Một tuần trước, anh còn nhắn:

    “Chờ anh thêm một tháng. Sau đó chúng ta sẽ có căn nhà tốt hơn.”

    Tôi lập tức hiểu.

    Căn nhà tốt hơn.

    Có lẽ chính là căn hộ Vân Đình.

    Hoặc căn hộ sau khi được dùng làm tài sản bảo đảm để vay vốn.

    Tôi hỏi:

    “Tiền thuê căn hộ Cảnh Hà được chuyển cho cô?”

    Giai Vân gật đầu.

    “Anh ấy nói đó là căn hộ đầu tư chung của hai người. Tiền thuê dùng để nuôi con.”

    “Cô có biết căn hộ đứng tên anh ấy?”

    “Biết.”

    “Vậy tại sao anh ấy không để mẹ con cô ở đó?”

    “Anh ấy nói bố mẹ cần giữ căn hộ làm tài sản, không đồng ý cho tôi ở.”

    Tôi thấy một nghịch lý chua chát.

    Gia đình họ Tống sẵn sàng đòi căn hộ của tôi cho Minh Hạo ở.

    Nhưng họ không cho đứa trẻ được gọi là cháu nội bước vào căn hộ của con trai mình.

    Tôi hỏi:

    “Gia đình anh ấy biết cô và đứa bé không?”

    Giai Vân im lặng rất lâu.

    “Biết.”

    Tôi nhìn thẳng vào cô.

    “Cô chắc chắn?”

    “Sau khi sinh, tôi từng đến nhà họ Tống. Mẹ anh ấy đưa cho tôi một khoản tiền, bảo tôi đừng làm ảnh hưởng tương lai của Kiến Thành.”

    “Bà ấy nói thế nào?”

    “Nói gia đình họ không thể chấp nhận một người phụ nữ từng ly hôn. Nhưng nếu tôi ngoan ngoãn, họ sẽ chu cấp cho đứa trẻ.”

    Tôi nắm chặt tay dưới bàn.

    Hóa ra tất cả đều biết.

    Bà Thục Phân biết.

    Ông Quốc Lâm biết.

    Tống Mỹ Lan biết.

    Có thể cả Minh Hạo cũng biết.

    Họ ngồi trước mặt tôi, nhận quà, bàn lễ cưới, gọi tôi là con dâu.

    Trong khi cùng nhau che giấu một người phụ nữ và một đứa trẻ.

    Giai Vân đỏ mắt.

    “Tôi xin lỗi. Tôi thật sự không biết cô là vị hôn thê của anh ấy.”

    “Tôi tin cô.”

    Cô ngẩng lên, bất ngờ.

    “Cô không trách tôi sao?”

    “Người nói dối cả hai chúng ta là anh ta.”

    Nước mắt cô rơi xuống.

    “Tôi đã lãng phí bốn năm.”

    “Tôi cũng từng nghĩ ba năm của mình là lãng phí.”

    “Không phải sao?”

    Tôi nhìn dòng nước trà rung nhẹ trong cốc.

    “Mất thời gian là thật. Nhưng ít nhất chúng ta biết sự thật trước khi tiếp tục mất thêm.”

    Giai Vân lấy từ túi ra một tập hồ sơ.

    “Đây là những khoản tiền tôi nhận từ anh ấy, tin nhắn và giấy tờ của con. Tôi không muốn liên quan đến anh ấy nữa. Nhưng tôi muốn yêu cầu anh ấy có trách nhiệm với đứa trẻ.”

    “Cô nên giữ bằng chứng.”

    “Còn cô định làm gì?”

    “Chấm dứt hoàn toàn.”

    Cô do dự rồi hỏi:

    “Cô có công khai chuyện này không?”

    Tôi hiểu điều cô lo.

    Nếu câu chuyện lan rộng, đứa trẻ có thể bị kéo vào những lời bàn tán không đáng có.

    Tôi nói:

    “Tôi không cần trả thù bằng cách biến chuyện riêng thành trò tiêu khiển. Tôi chỉ cần bảo vệ mình và để sự thật đến đúng nơi cần đến.”

    Giai Vân thở phào.

    Chúng tôi trao đổi những tài liệu cần thiết.

    Trước khi rời đi, cô nói:

    “Cô Hứa, hôm anh ấy biết tôi phát hiện thiệp cưới, anh ấy đến tìm tôi. Anh ấy nói cuộc hôn nhân với cô chỉ là sắp xếp tạm thời.”

    “Tạm thời?”

    “Anh ấy nói cô có điều kiện tốt, có thể giúp gia đình vượt qua khó khăn. Sau vài năm, khi mọi thứ ổn định…”

    Cô không nói tiếp.

    Nhưng tôi hiểu.

    Sau vài năm, khi tài sản của tôi đã bị hòa vào gia đình họ Tống, khi tôi đã nghỉ việc, khi có thể đã sinh con, anh ta sẽ tìm cách khiến tôi không thể rời đi dễ dàng.

    Tôi từng nghĩ tờ thỏa thuận tối hôm ra mắt là đỉnh điểm của sự kiểm soát.

    Hóa ra đó chỉ là một phần trong kế hoạch lớn hơn.

    Buổi tối, Kiến Thành lại tới căn hộ Vân Đình.

    Anh không thể lên tầng vì thẻ ra vào đã bị vô hiệu hóa, nên đứng dưới đại sảnh gọi cho tôi.

    Tôi quyết định xuống gặp.

    Không phải để nghe giải thích.

    Mà để kết thúc.

    Khi nhìn thấy tôi, anh bước nhanh tới.

    “Em đã gặp Giai Vân?”

    Tôi không ngạc nhiên vì anh biết.

    “Cô ấy nói với anh?”

    “Cô ta đang kích động em.”

    “Cô ấy chỉ đưa bằng chứng.”

    “Thanh Nghi, chuyện không như em nghĩ.”

    Tôi bình tĩnh đến mức chính mình cũng bất ngờ.

    “Vậy anh nói đi.”

    Anh nhìn quanh.

    “Chúng ta lên nhà được không?”

    “Không.”

    “Đây là chuyện riêng.”

    “Sảnh có khu tiếp khách. Anh ngồi đi.”

    Anh miễn cưỡng ngồi xuống sofa.

    Tôi ngồi đối diện, giữa chúng tôi là một chiếc bàn thấp bằng đá.

    Kiến Thành cúi đầu, hai tay đan vào nhau.

    “Anh quen Giai Vân trước em.”

    “Em biết.”

    “Bọn anh từng định kết hôn. Nhưng bố mẹ phản đối.”

    “Rồi cô ấy mang thai.”

    “Đó là ngoài ý muốn.”

    Tôi nhìn anh.

    “Đứa trẻ không có lỗi.”

    “Anh không nói con có lỗi.”

    “Anh vẫn gọi mình là bố của nó?”

    Anh im lặng.

    “Đứa trẻ có phải con anh không?”

    “Anh chưa làm xét nghiệm.”

    “Nhưng anh chu cấp bốn năm.”

    “Vì anh có trách nhiệm.”

    “Trong khi chuẩn bị cưới em.”

    Anh đưa tay xoa mặt.

    “Anh định giải quyết.”

    “Giải quyết bằng cách nào?”

    “Anh sẽ tiếp tục chu cấp cho đứa trẻ. Còn anh và Giai Vân đã không còn tình cảm.”

    “Tin nhắn một tuần trước anh gọi cô ấy là vợ.”

    “Anh chỉ nói vậy để cô ấy yên tâm.”

    Tôi bật cười.

    “Anh nói với em rằng căn hộ Vân Đình là nhà của bạn để gia đình anh yên tâm. Anh nói với Giai Vân rằng em là đối tác để cô ấy yên tâm. Anh hứa cưới cả hai bên để mọi người yên tâm. Kiến Thành, có lúc nào anh sống mà không cần một lời nói dối không?”

    Mặt anh đỏ lên.

    “Anh biết mình sai. Nhưng anh không muốn mất em.”

    “Anh không muốn mất em, hay không muốn mất những gì em có?”

    “Em lại nói đến tài sản.”

    “Bởi gia đình anh đã chuẩn bị hồ sơ thế chấp nhà của em.”

    “Anh chưa làm!”

    “Vì anh chưa thể làm, không phải vì anh không muốn.”

    Anh đứng bật dậy.

    “Em nhất định phải nhìn anh như một kẻ xấu xa sao?”

    Tôi ngước nhìn anh.

    “Em chỉ nhìn vào những việc anh đã làm.”

    “Anh cũng có áp lực! Bố mẹ ép anh, Minh Hạo cần tiền, Giai Vân dùng đứa trẻ giữ anh, còn em lúc nào cũng mạnh mẽ, lúc nào cũng khiến anh cảm thấy mình kém hơn!”

    Câu cuối cùng bật ra khiến cả hai cùng im lặng.

    Tôi hỏi rất khẽ:

    “Anh cảm thấy kém hơn em?”

    Anh quay mặt đi.

    “Em có nhà tốt hơn, thu nhập cao hơn, quan hệ rộng hơn. Khi đi cùng em, người khác luôn nghĩ anh dựa vào em.”

    “Em đã bao giờ nói như vậy?”

    “Em không cần nói. Cách em xử lý mọi chuyện khiến anh cảm thấy không có tiếng nói.”

    “Vì vậy anh muốn em nghỉ việc?”

    “Anh chỉ muốn gia đình cân bằng hơn.”

    “Cân bằng bằng cách kéo em xuống?”

    “Anh không có ý đó.”

    “Nhưng đó là điều anh đã làm.”

    Anh ngồi lại, giọng dịu xuống.

    “Thanh Nghi, anh thật sự yêu em. Chúng ta bỏ qua mọi chuyện, bắt đầu lại được không? Anh sẽ cắt đứt với Giai Vân, chỉ chu cấp cho đứa trẻ theo quy định. Anh sẽ không để gia đình can thiệp. Chúng ta vẫn tổ chức hôn lễ, chỉ cần lùi lại vài tháng.”

    Tôi nhìn người đàn ông trước mặt.

    Có lẽ anh vẫn tin rằng một lời hứa mới có thể xóa đi tất cả lời nói dối cũ.

    Tôi lấy từ túi ra chiếc nhẫn đính hôn.

    Đặt lên bàn.

    “Em từng nghĩ chiếc nhẫn này là lời hứa.”

    Anh nhìn nó, môi mím chặt.

    “Giờ em hiểu, lời hứa chỉ có giá trị khi người nói có nhân cách để giữ.”

    “Em thật sự không cho anh cơ hội?”

    “Không.”

    “Ba năm không đáng để em cân nhắc sao?”

    “Chính vì ba năm nên em mới biết mình đã cho quá nhiều cơ hội mà không nhận ra.”

    Anh nhắm mắt.

    Một lúc sau, anh hỏi:

    “Em có công khai chuyện Giai Vân không?”

    “Không cần.”

    Anh thở phào rất nhẹ.

    Tôi nói tiếp:

    “Nhưng em đã gửi thông báo hủy hôn cho họ hàng và bạn bè của mình. Nội dung chỉ nói chúng ta không còn phù hợp.”

    “Cảm ơn em.”

    “Tuy nhiên, nếu gia đình anh bịa đặt hoặc gây ảnh hưởng đến danh dự của em, em sẽ cung cấp bằng chứng cần thiết.”

    Anh lập tức cau mày.

    “Em đang đe dọa anh?”

    “Em đang nói rõ giới hạn.”

    Đúng lúc đó, cửa đại sảnh mở ra.

    Tống Mỹ Lan, bà Thục Phân và ông Quốc Lâm vội vã bước vào.

    Có lẽ Kiến Thành đã báo cho họ.

    Tống Mỹ Lan vừa thấy tôi đã lớn tiếng:

    “Thanh Nghi, cô gặp người phụ nữ kia rồi phải không? Cô ta chỉ muốn phá đám cưới để đòi tiền!”

    Tôi đứng dậy.

    “Chị nói nhỏ thôi.”

    “Cô ta là loại người gì chúng tôi biết rõ. Cô đừng để bị lừa.”

    “Cô ấy có con với Kiến Thành.”

    Bà Thục Phân chen vào:

    “Chưa chắc là con của Kiến Thành!”

    Tôi nhìn bà.

    “Nhưng bác vẫn đưa tiền cho cô ấy suốt nhiều năm.”

    Bà cứng người.

    Tống Quốc Lâm nói:

    “Đó là để tránh phiền phức.”

    “Bác biết chuyện từ đầu.”

    Ông không phủ nhận.

    Tôi nhìn từng gương mặt.

    “Các người biết Kiến Thành có một mối quan hệ chưa giải quyết, biết có một đứa trẻ, nhưng vẫn đến nhà tôi bàn lễ cưới. Các người còn yêu cầu tôi nghỉ việc, giao căn hộ và tiền tiết kiệm.”

    Tống Mỹ Lan chống tay lên hông.

    “Chuyện đàn ông trước hôn nhân có gì phải đào sâu? Sau khi cưới, nó sống tốt với cô là được.”

    “Vậy nếu tôi có một đứa con giấu kín và một người đàn ông khác, chị có nói đó chỉ là chuyện trước hôn nhân không?”

    Chị ta nghẹn lời.

    Bà Thục Phân kéo tay tôi.

    “Thanh Nghi, con nghe bác. Đàn ông đôi lúc xử lý tình cảm không dứt khoát, nhưng Kiến Thành thật lòng muốn cưới con. Giai Vân không có học vấn tốt, không có gia đình hỗ trợ, làm sao xứng với nó? Con mới là người thích hợp làm vợ.”

    Tôi nhìn bà.

    “Bác chọn cháu không phải vì quý cháu.”

    “Con nói gì vậy?”

    “Bác chọn cháu vì cháu có công việc tốt, có căn hộ, có thể giúp gia đình bác.”

    “Không phải!”

    “Vậy tại sao điều đầu tiên cả nhà yêu cầu là cháu giao nhà và nghỉ việc?”

    Bà buông tay.

    Tống Quốc Lâm nghiêm giọng:

    “Dù sao hôn lễ đã hủy, cô còn muốn gì nữa?”

    “Cháu không muốn gì từ nhà bác.”

    “Vậy giao lại những món quà đính hôn.”

    Tôi gần như không tin vào tai mình.

    “Quà đính hôn?”

    “Một đôi vòng vàng và tiền lễ.”

    Tôi gật đầu.

    “Được. Những thứ nhà bác đưa, cháu sẽ hoàn trả đầy đủ theo danh sách.”

    Ông lập tức nói:

    “Còn chi phí nhà chúng tôi đã bỏ ra để chuẩn bị đám cưới.”

    “Chi phí nào có hóa đơn và được hai bên thống nhất, bác gửi cho luật sư của cháu.”

    Tống Mỹ Lan quát:

    “Cô đừng đem luật sư ra dọa người!”

    “Vậy chị muốn giải quyết bằng cảm xúc và tiếng khóc sao?”

    “Cô…”

    Kiến Thành đứng lên.

    “Đủ rồi!”

    Mọi người im bặt.

    Anh nhìn gia đình mình.

    “Con đã nói để con tự giải quyết.”

    Tống Mỹ Lan lập tức chỉ vào tôi.

    “Nó đã khiến cả nhà mất chỗ ở, giờ còn muốn con quay lưng với gia đình?”

    Kiến Thành mệt mỏi nói:

    “Căn hộ vốn là của cô ấy.”

    “Nhưng nếu nó thật lòng yêu con, nó đã không tính toán!”

    Tôi nhìn Kiến Thành.

    Đây là giây phút cuối cùng để tôi thấy anh có thể đứng ở đâu.

    Anh im lặng.

    Sau đó nói rất nhỏ:

    “Mỹ Lan, chị về trước đi.”

    Không phải bảo vệ tôi.

    Không phải thừa nhận gia đình sai.

    Chỉ là yêu cầu chị gái rời đi để sự việc bớt ồn ào.

    Tôi không còn thất vọng.

    Bởi hy vọng đã hết.

    Tôi cầm túi.

    “Cuộc nói chuyện kết thúc.”

    Bà Thục Phân chặn phía trước.

    “Con không thể tuyệt tình như vậy. Nếu con bỏ Kiến Thành, công việc kinh doanh của Minh Hạo cũng không làm được. Tiền đặt cọc mặt bằng đã trả rồi.”

    Tôi nhìn bà.

    “Liên quan gì đến cháu?”

    “Gia đình đã tính dùng căn hộ của con làm vốn.”

    “Đó chính là vấn đề.”

    “Chúng ta có thể viết giấy vay!”

    “Bác vừa thừa nhận các người đã tính dùng nhà của cháu.”

    Bà nhận ra mình lỡ lời, sắc mặt thay đổi.

    Xung quanh, vài cư dân trong sảnh bắt đầu chú ý.

    Tôi nói với bảo vệ:

    “Phiền anh tiễn khách.”

    Tống Mỹ Lan nổi giận.

    “Cô dám đuổi chúng tôi?”

    Tôi bình tĩnh đáp:

    “Đây là khu dân cư. Các người đang gây ồn ào.”

    Kiến Thành nhìn tôi.

    “Thanh Nghi, nhất định phải kết thúc khó coi như vậy sao?”

    Tôi lắc đầu.

    “Không. Em đã cố kết thúc trong yên lặng. Người kéo cả gia đình tới đây là anh.”

    Anh không nói nữa.

    Tôi bước vào thang máy.

    Lần này, chiếc va li không còn bên cạnh.

    Chỉ có chiếc túi xách nhẹ trên vai.

    Khi cửa thang máy sắp đóng, bà Thục Phân gọi:

    “Sau này con sẽ hối hận! Một người phụ nữ ngoài ba mươi, bỏ lỡ Kiến Thành rồi chưa chắc tìm được ai tốt hơn!”

    Tôi nhìn bà qua khe cửa.

    “Ở một mình vẫn tốt hơn sống trong một gia đình không tôn trọng mình.”

    Cửa đóng lại.

    Thang máy đi lên.

    Tôi nhìn con số thay đổi từng tầng và nhớ tới tối hôm đó, khi mình kéo va li bước vào thang máy trong tiếng gọi của cả nhà họ Tống.

    Khi ấy tôi tưởng mình đang mất tất cả.

    Nhưng bây giờ tôi hiểu, tôi không mất đi tương lai.

    Tôi chỉ rời khỏi một tương lai không thuộc về mình.

    Những ngày sau đó không hề dễ dàng.

    Tin hủy hôn lan ra.

    Một số họ hàng xa gọi điện hỏi han với giọng tò mò.

    Có người khuyên tôi phụ nữ nên mềm mỏng.

    Có người nói đàn ông có sai sót là bình thường.

    Có người cho rằng tôi quá mạnh mẽ nên khó giữ gia đình.

    Tôi không giải thích dài dòng.

    Tôi chỉ nói:

    “Chúng tôi không còn chung giá trị sống.”

    Phía nhà họ Tống ban đầu cũng giữ im lặng.

    Nhưng một tuần sau, trên mạng xã hội xuất hiện bài đăng ẩn danh kể rằng một người phụ nữ “nhờ sắp cưới mới đổi đời”, sau đó vì không muốn chăm sóc bố mẹ chồng nên đuổi người lớn tuổi ra khỏi căn hộ giữa đêm.

    Dù không ghi tên, nhiều chi tiết đủ để người quen nhận ra tôi.

    Nhược Đồng tức giận.

    “Chắc chắn là Tống Mỹ Lan.”

    Tôi chụp lại bài đăng, gửi cho luật sư.

    Sau đó luật sư gửi văn bản yêu cầu gỡ bỏ và chấm dứt thông tin sai lệch.

    Chỉ trong một ngày, bài viết biến mất.

    Tống Mỹ Lan gọi cho tôi hơn mười lần.

    Tôi không nghe.

    Sau đó chị ta nhắn:

    “Cô đúng là không chừa đường sống cho ai.”

    Tôi trả lời duy nhất một câu:

    “Tôi chỉ yêu cầu chị chịu trách nhiệm với lời mình viết.”

    Chị ta không nhắn nữa.

    Hai tháng sau, tôi nghe tin nhà hàng của Minh Hạo không thể khai trương vì thiếu vốn. Mặt bằng bị trả lại, mất một phần tiền đặt cọc.

    Tống Mỹ Lan và chồng cũng xảy ra mâu thuẫn vì khoản tiền chị ta tự ý đưa cho em trai.

    Ông Quốc Lâm phải bán chiếc xe mới mua để bù vào một số khoản nợ.

    Còn Kiến Thành bị công ty điều chuyển khỏi vị trí quản lý sau khi một số vấn đề tài chính trong dự án của anh bị phát hiện.

    Tôi không biết chi tiết.

    Cũng không tìm hiểu.

    Những chuyện đó không còn liên quan đến tôi.

    Điều tôi quan tâm là sửa lại căn hộ Vân Đình.

    Tôi thay rèm cửa.

    Sơn lại phòng làm việc.

    Bỏ chiếc bàn từng chứa hồ sơ vay vốn.

    Trồng một hàng cây nhỏ ngoài ban công.

    Mỗi sáng, ánh nắng chiếu qua cửa kính, rơi lên sàn gỗ.

    Căn hộ dần trở về với dáng vẻ tôi yêu thích.

    Không còn mùi thuốc lá.

    Không còn những đôi giày xa lạ trước cửa.

    Không còn những cuộc họp gia đình quyết định cuộc đời tôi.

    Một buổi chiều đầu thu, Giai Vân gọi cho tôi.

    Cô nói đã yêu cầu Kiến Thành làm xét nghiệm xác nhận quan hệ với đứa trẻ và thống nhất trách nhiệm chu cấp.

    “Anh ấy không đồng ý ngay,” cô nói. “Nhưng sau khi luật sư liên hệ, anh ấy đã hợp tác.”

    “Cô và bé ổn không?”

    “Ổn. Tôi tìm được công việc mới ở Tô Châu. Tháng sau sẽ chuyển đi.”

    “Chúc cô thuận lợi.”

    Giai Vân im lặng một lúc rồi nói:

    “Cảm ơn cô vì hôm đó không trách tôi.”

    “Tôi cũng từng là người bị giấu sự thật.”

    “Cô có hận anh ấy không?”

    Tôi nhìn những chiếc lá ngoài ban công đang chuyển màu.

    “Trước đây có.”

    “Còn bây giờ?”

    “Không còn cần thiết.”

    Hận một người cũng là dành cho họ quá nhiều chỗ trong lòng.

    Tôi đã lấy lại căn hộ.

    Lấy lại kế hoạch sự nghiệp.

    Lấy lại sự bình yên.

    Điều cuối cùng tôi cần lấy lại là khả năng nhìn về phía trước mà không để quá khứ kéo chân.

    Nửa năm sau, tôi được giao phụ trách một dự án lớn.

    Những ngày làm việc lại bận rộn, nhưng lần này tôi không còn cảm thấy phải xin lỗi vì sự bận rộn của mình.

    Tôi đi Bắc Kinh họp.

    Tới Thượng Hải gặp đối tác.

    Cuối tuần về Hàng Châu, tôi nấu ăn cùng Nhược Đồng hoặc đi bộ bên bờ hồ.

    Có người hỏi tôi có còn tin vào hôn nhân không.

    Tôi trả lời:

    “Tôi vẫn tin vào một mối quan hệ tốt. Nhưng tôi không còn tin rằng hôn nhân tự nó sẽ khiến một người trở nên tốt hơn.”

    Một năm sau ngày hủy hôn, tôi tình cờ gặp Kiến Thành ở sảnh một tòa nhà văn phòng.

    Anh gầy hơn trước, mặc chiếc áo khoác màu đen, đứng cạnh máy bán cà phê.

    Khi nhìn thấy tôi, anh sững lại.

    Tôi cũng dừng một giây.

    Rồi gật đầu chào.

    Anh bước tới.

    “Thanh Nghi.”

    “Lâu rồi không gặp.”

    “Em… vẫn khỏe chứ?”

    “Rất khỏe.”

    Anh nhìn tôi một lúc.

    “Anh nghe nói em được thăng chức.”

    “Ừ.”

    “Chúc mừng.”

    “Cảm ơn.”

    Một khoảng im lặng kéo dài.

    Cuối cùng anh nói:

    “Anh và gia đình đã chuyển về Cảnh Hà.”

    Tôi không biết nên đáp gì, chỉ gật đầu.

    “Giai Vân đưa con tới Tô Châu. Anh mỗi tháng đến thăm một lần.”

    “Anh nên làm tròn trách nhiệm.”

    “Anh biết.”

    Anh cúi xuống.

    “Thanh Nghi, anh từng nghĩ em quá tuyệt tình.”

    Tôi im lặng nghe.

    “Sau này anh mới hiểu… em chỉ làm điều mà đáng lẽ em phải làm.”

    Tôi nhìn anh.

    “Anh hiểu được là tốt.”

    “Anh vẫn muốn xin lỗi.”

    “Em chấp nhận.”

    Ánh mắt anh sáng lên một chút.

    Nhưng tôi nói tiếp:

    “Chấp nhận lời xin lỗi không có nghĩa là quay lại.”

    Ánh sáng ấy lặng xuống.

    “Anh biết.”

    Thang máy phía sau mở cửa.

    Tôi bước vào.

    Anh đứng bên ngoài, giống hệt tối hôm hủy hôn.

    Chỉ khác lần này không ai níu kéo.

    Không có họ hàng vây quanh.

    Không có tiếng trách móc.

    Không có chiếc va li.

    Trước khi cửa đóng, Kiến Thành gọi:

    “Thanh Nghi.”

    Tôi nhìn anh.

    “Em có từng hối hận không?”

    Tôi suy nghĩ vài giây.

    “Có.”

    Gương mặt anh khẽ thay đổi.

    Tôi mỉm cười.

    “Em hối hận vì đã không nhìn rõ sớm hơn.”

    Cửa thang máy khép lại.

    Tôi nhìn con số trên bảng điện tử tăng dần.

    Tầng năm.

    Tầng sáu.

    Tầng bảy.

    Ánh sáng trong thang máy phản chiếu gương mặt tôi.

    Không còn là người phụ nữ ngồi giữa bữa tiệc, cố tìm một lời bảo vệ từ vị hôn phu.

    Không còn là người kéo va li rời đi trong hoang mang, vừa đau lòng vừa tự hỏi mình có quá cứng rắn hay không.

    Tôi đã hiểu một điều rất đơn giản:

    Một gia đình tốt không yêu cầu người mới bước vào phải giao nộp tự do để chứng minh lòng chân thành.

    Một người đàn ông đáng tin không đứng im khi người thân xúc phạm bạn đời.

    Và tình yêu thật sự không khiến một người phải từ bỏ công việc, tài sản, tiếng nói và lòng tự trọng để đổi lấy hai chữ “hòa thuận”.

    Khi thang máy lên tới tầng mười tám, cửa mở ra.

    Ánh nắng cuối ngày trải dài trên hành lang.

    Tôi bước ra ngoài, đi về phía cánh cửa căn hộ mang tên mình.

    Trên bảng điện tử cạnh cửa chỉ có một mã khóa mới mà không ai ngoài tôi được quyền quyết định.

    Tôi đặt tay lên cảm biến.

    Cửa mở.

    Bên trong là căn phòng sáng, yên tĩnh và đầy mùi hương của những chậu cây ngoài ban công.

    Tôi bước vào, khép cửa lại.

    Không phải để trốn khỏi một gia đình.

    Mà để trở về với chính mình.

    ‼️‼️‼️Lưu ý cuối cùng dành cho người đọc: Nội dung truyện ngắn trên chỉ mang tính giải trí, hư cấu. Tất cả tình tiết, cốt truyện không chỉ trích, xúc phạm bất cứ cá nhân, tổ chức nào. Đây chỉ là truyện ngắn và không phải là một sự kiện, tin tức báo chí.